Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hoá xã hội và tai biến môi trường cần quan tâm trong quy hoạch vùng (P2)

Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hoá xã hội và tai biến môi trường cần quan tâm trong quy hoạch vùng (P2)
Rate this post

4. Ngư trường và các đầm phá nuôi trồng thuỷ sản
Biển là nơi cung cấp các loại tài nguyên rất quý phục vụ cho nhu cầu sinh sống của loài ngươi. Biển và vùng ven bờ đã tạo nên một ngư trường đánh bắt, nuôi sống phần lớn dân số trên thế giới. Việt Nam là quốc gia biển có đường bờ dài khoảng 3.260 km, nhiều đảo ngoài khơi và có hai vịnh với độ sâu tối đa 100m là vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan.
Dọc bờ biển Việt Nam có nhiều hệ sinh thái điển hình: bãi cát, bãi bùn, cửa sông, rừng ngập mặn, rặng san hô, đảo nhỏ, vách đá… Đa dạng sinh học biển và hải sản có thể khai thác vừa đa dạng vừa phong phú. Biển và vùng ven bờ còn cung cấp tiềm nàng rất lớn đối với đánh bắt và sản xuất thuỷ sản như tôm cá, rong biển.
Rừng ngập mặn, đất ngập nước và các vùng lầy mặn là những khu vực sản xuất thuỷ sản có năng suất cao và đóng góp giá trị rất lớn trong hoạt động sản xuất của ngành thuỷ sản. Rừng ngập mặn là một kiểu hệ sinh thái đặc biệt, trong đó rừng ngập mặn của bán đảo Cà Mau rất nổi tiếng trên thế giới. Dọc ven biển miền Trung, đầm phá là một kiểu hệ sinh thái đặc trưng, có đa dạng sinh học cao và tiềm năng phát triển thuỷ sản rất lớn.
Hoạt dộng khai thác và chế biến thuỷ sản đã hủy hoại rìữỉg ngập mặn và gây ảnh hương xâìt tới chất lượng môi trường biển và ven bờ. Việt Nam đang phải đối mặt với các vấn đề nảy sinh do khai thác tài nguyên biển bất hợp lý và do các hoạt động ngư nghiệp. Đó là các khu rừng ngập mặn và các rặng san hô đang bị phá hoại chỉ vì lợi ích trước mắt. Bên cạnh đó là sự ô nhiễm do khai thác dầu, tai nạn tàu chở dầu, các sự cố tràn dầu…, kim loại nặng, thuốc trừ sâu, các chất phóng xạ, và các vật chất hữu cơ khác từ đất liền đổ ra biển đã làm suy thoái môi trường biển. Biểu hiện rõ nhất của vấn đề ô nhiễm biển là hiện tượng thuỷ triều đỏ đang xuất hiện do bùng phát của tảo độc ở một số nước lân cận và bắt đầu xuất hiện ở một số vùng biển Việt Nam.
5. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển kinh tế của xã hội loài người nhưng đó là loại tài nguyên không tái tạo. Khai thác tài nguyên khoáng sản để sử dụng trong công nghiệp và cung cấp các nguyên liệu thô cho sản xuất. Mặt khác, khai thác tài nguyên khoáng sản cũng tạo ra các chất gây ô nhiễm như bụi, tiếng ồn, kim loại nặng, hơi, khí độc và hoá chất độc hại.
Tài nguyên khoáng sản ớ Việt Nam đa dạng về loại hình, với hơn 80 loại hình mỏ bao gồm hơn 3.500 mỏ lớn nhò. Các loại khoáng sản chính gồm có: dầu khí, than đá, than bùn, than nâu, sắt, đá vôi, apatit, vàng, đất hiếm.
Việc khai thác và sử dụng khoáng sản ở Việt Nam còn nhiều hạn chế do công nghệ khai thác chưa được nâng cấp, đã và đang gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đến sức khoẻ con người và chất lượng môi trường, gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất. Theo thời gian, tài nguyên khoáng sản sẽ dần bị cạn kiệt.
Đê hạn chế tổn thất tài nguyên khoáng sản và tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác, chế biến và vận chuyển cần phải:
+ Đầu tư các công nghệ mới nhằm khai thác tốt hơn, hiệu quả hơn và ít gây tác động tới môi trường hơn,
+ Quy hoạch đầu tư khai thác và chế biến khoáng sản một cách cẩn trọng, đầu tư kinh phí, xây dựng các hệ thống xử lý ô nhiễm như: chống bụi, tiếng ồn, xử lý nước thải, quản lý bãi thải,
+ Thiết lập và ký quỹ hoàn phục môi trường khai thác khoáng sản theo quy chế.
6. Các khu Bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia
Việt Nam có 10 Vườn Quốc gia được quản lý chặt chẽ phục vụ các hoạt động bảo tồn, du lịch và các hoạt động sử dụng bền vững khác. Tuy nhiên, các Vườn Quốc gia hiện đang bị xuống cấp do nhiều loại hình hoạt động khác nhau của con người. Thêm vào đó, trên 100 khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) đại diện cho các hệ sinh thái khác nhau, trong đó có 15 khu Bảo tồn biển đang tiếp tục bị đe doạ tàn phá.
Các khu Bảo tồn thiên nhiên được thiết lập để bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên của một vùng và chức năng của các khu BTTN là bảo tồn và củng cố các sinh cảnh nguyên thuỷ thường chứa các động thực vật quý hiếm cũng như thực hiện các chức nãng trong quản lý lưu vực. Mỗi khu BTTN có vùng lõi và vùng đệm (vùng khai thác có kiểm soát). Trong vùng đệm các chính sách phát triển được quản lý bởi chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến công tác bảo tồn vùng lõi.
7. Tài nguyên Văn hoá – xã hội
Duy trì các di sản văn hoá và lịch sử thường được nhìn nhận như là chỉ số quan trọng và rất có giá trị để xem xét khả năng định hình và phát triển của một khu vực. Di tích văn hoá và lịch sử cần được giữ gìn và bảo vệ đầy đủ. Các di sản này bao gồm các di sản văn hoá gắn kết chặt chẽ với những giai đoạn lịch sử hoặc các sự kiện nhất định có thể đã hoặc chưa được Chính phủ công nhận nhưng vẫn có giá trị đối với cộng đồng địa phương. Do đó, cần thiết phải điều tra, khảo sát các di tích văn hoá có tầm quan trọng quốc gia, vùng hoặc địa phương để xác định các biện pháp bảo vệ thích hợp.
Các yếu tô’ lịch sử và văn hoá (vật thể và phi vật thể) cần được lồng ghép vào quy hoạch vùng để bảo vệ các di tích lịch sử gắn liền với lối sống, vãn hoá và các giá trị khác của người dân bản địa. Cân nhắc đánh giá các giá trị văn hoá, di sản văn hoá – lịch sử cần dược tính đến nhằm điều chỉnh và bổ sung cho quy hoạch phát triển vùng.
Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá trong quy hoạch cần phải chú ý tới hai đặc trưng sau:
+ Nguồn nhàn lực
Khi quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, các vấn đề về nhân lực và đặc trưng văn hoá cộng đồng sau đây cần lưu ý:
Những thay đổi về các đặc trưng văn hoá, tập tục, lối sống trong sinh hoạt hàng ngày, về quan hệ gia đình, quan hệ xã hội khác.
Diễn biến của quá trình dân số, nhân lực và chất lượng dân số (lao động), học vấn, cấu trúc tuổi, dân tộc, giới tính và phân bố dân cư, tỷ lệ sinh, tử và các quá trình di cư trong vùng. Trên cơ sở hiện trạng và dự báo quá trình dân số, nhân lực sẽ định hướng cho quy hoạch phát triển vùng và xác định các mục tiêu phát triển,
Các đặc trưng văn hoá cộng đồng (văn hoá làng xã, thôn bản, văn hoá đô thị, tập tục thờ cúng tổ tiên, chữ viết, tiếng nói….) phải được xem xét một cách đúng mức trong quy hoạch phát triển. Thay đổi lối sống (ăn ở, canh tác, lao động, quan hệ xã hội…) dễ làm mất đi những lề thói quen thuộc và bản sắc cổ truyền.
+ Nguồn tri thức bản địa
Tri thức của các cộng đồng bản địa về các vấn đề môi trường và cách thức để bảo vệ môi trường là một nguồn thông tin quan trọng để hiểu quá trình phát triển bền vững.
Tri thức bản địa bao gồm nhận thức về các điều kiện tự nhiên, cách thức ứng xử với các thiên tai và các vấn đề môi trường trong vùng, các hiểu biết và kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Nguồn kiến thức và sự sáng tạo của người dân bản địa phải được ứng dụng trong quy hoạch phát triển. Quá trình phát triển sẽ khả thi chỉ khi được điều chỉnh để phản ánh tri thức và cách nhìn nhận của địa phương.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.