Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hoá xã hội và tai biến môi trường cần quan tâm trong quy hoạch vùng (P1)

Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hoá xã hội và tai biến môi trường cần quan tâm trong quy hoạch vùng (P1)
Rate this post

Nghiên cứu môi trường trong Quy hoạch vùng là việc làm có ý nghĩa quan trọng, bởi vì nó quyết định tới mục tiêu môi trường của quy hoạch. Yêu cầu nghiên cứu môi trường đối với người làm công tác quy hoạch không chỉ hiểu biết cặn kẽ những giá trị và tiềm năng của các yếu tố môi trường, mà còn nắm vững khả năng xẩy ra tai biến môi trường trong khu vực. Nó bao gồm các vấn đề sau đây:
l .Tài nguyên nước
Là tài nguyên quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên Trái đất. Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống, nước còn là nguồn năng lượng và nguồn lợi hoá chất. Nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trong một quốc gia, một vùng đều cần tới nước và phụ thuộc vào nước.
Có ba nguồn cung cấp nước chính: nước mưa, nước ngầm và nước mặt. Phần lớn nước chảy ra biển và hoàn thiện các chức nãng của các hệ sinh thái. Con người sử dụng dòng chảy đó theo nhiều cách khác nhau nhưng đạt đến ngưỡng sử dụng thì các chức năng tự nhiên của nó bắt đầu bị suy thoái.
Sự khan hiếm nước cũng như sự lạm dụng tài nguyên nước đang đe doạ nghiêm trọng đời sống loài người. Các mâu thuẫn liên quan đến nguồn nước và sự thiếu hụt nước cấp sẽ ảnh hưởng lớn đến trật tự an ninh và tính ổn định lâu dài của các kế hoạch phát triển vùng.
Sức khoẻ và hạnh phúc của con người, chất lượng lương thực, thực phẩm, sự phát triển công nông nghiệp và cả các hệ sinh thái mà con người phải sống dựa vào, đang ngày càng bị đe dọa nếu vấn đề tài nguyên nước không được quy hoạch, quản lý và sử dụng hữu hiệu.
Các vấn đề môi trường có liên quan tới tài nguyên nước ở Việt Nam:
+ Sự thiếu hụt về khối lượng: Các nguồn nước khác nhau đang bị khai thác ngày càng tãng. Nguồn nước ngọt có thể khai thác được thì bị suy giảm và cân bằng nước tự nhiên đang biến động mạnh. Vùng nào có lượng nước ít hơn 2000m3/người/năm sẽ hạn chế khả năng phát triển kinh tế – xã hội. Nhiều vùng của Việt Nam đang hàng ngày đối mặt với tình trạng khan hiếm nước như vậy.
+ Sự suy giảm về chất lượng: Tài nguyên nước (nước mặt, nước-ngầm, nước biển) đang bị ô nhiễm bởi các hoá chất, thuốc trừ sâu, kim loại nặng, chất hữu cơ, vi sinh vật gày bệnh.v.v. Chất lượng nước cũng bị suy giảm bởi quá trình trầm tích gia tăng do phá rừng, các hoạt động nông nghiệp và sự phát triển hạ tầng thiếu thận trọng.
+ Mâu thuẫn sử dụng nước: các mâu thuẫn trong sử dụng quá mức tài nguyên nước giữa các vùng đầu nguồn và vùng hạ lưu trong cùng một vùng cho những mục tiêu phát triển khác nhau đang diễn ra.
2. Tài nguyên rừng
Được hiểu là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bể mặt Trái đất. Rừng được xem là “lá phổi xanh” của hành tinh chúng ta bởi rừng có khả năng hấp thụ cơ2 và giải phóng 02 vào khí quyển. Do đó rừng có vai trò to lớn đối với sự bảo toàn sự sống trên
Trái đất: thực hiện chức năng điều hoà khí hậu, điều hoà nước, giải phóng O, qua hô hấp, rừng đảm bảo các chức năng quan trọng đối với con người và các động thực vật. Rừng còn cung cấp củi, gỗ, nơi cư trú và bảo vệ đất cũng như có vai trò quan trọng đối với các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng.
Có các loại rừng chủ yếu sau:
Rừng phòng hộ: Là những khu rừng được sử dụng để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học và các hộ thống tự nhiên. Rừng phòng hộ bao gồm rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng chắn gió, chán cát, chắn sóng. Các rừng phòng hộ đó bảo vệ môi trường sinh thái và còn được gọi là rừng bảo vệ môi trường.
Rừng đặc dụng: Là những khu rừng để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, là một phần của rừng quốc gia, sử dụng để nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh, phục vụ du lịch sinh thái và giải trí. Nó bao gồm các loại như: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng văn hoá, rừng nghiên cứu thí nghiệm. Rừng nghĩa địa (rừng ma) ở vùng các dân tộc miền núi là một loại rừng văn hoá đặc biệt.
Rừng sản xuất: Là những khu rừng được sử dụng để sản xuất, kinh doanh các loại gỗ củi, các loại lâm sản, động vật rừng. Rừng sản xuất còn được gọi là rừng kinh tế hoặc rừng lấy gỗ.
Tài nguyên rừng đang bị suy thoái. Các diện tích rừng lớn đang bị mất dần dẫn đến sự gia tăng diện tích đất bị hoang mạc hoá/đất trống đồi núi trọc. Các nguyên nhân mất rừng là:
+ Phá rừng để lấy diện tích đất làm nhà ớ, mặt bằng sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, phát triển giao thông, cơ sở hạ tầng. Các hoạt động này là nguyên nhân chính, chiếm 45% diện tích rừng bị mất.
+ Gia tăng khai thác khoáng sản, khí đốt, than, vật liệu xây dựng và các lâm sản cho chế biến.
+ Do ô nhiễm môi trường (ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, mưa axit). Mất rừng đã làm gia tâng thiên tai như: biến đổi hệ sinh thái, mất khá năng điều tiết nước, biến đổi khí hậu, gia tãng lũ lụt, bão và hạn hán.
Sự tổn tại của rừng phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của chúng ta về các giá trị bảo vệ của rừng đối với kiểm soát khí hậu, các dịch vụ hệ sinh thái cũng như các lợi ích văn hoá và kinh tế của rừng đối với xã hội.
Các thách thức trong bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng: bao gồm các yêu cầu:
+ Trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, xã hội hóa phát triển lâm nghiệp, xây dựng các khu rừng văn hoá ở miền núi, tôn trọng các khu rừng nghĩa địa (rừng nghĩa địa là tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng là tài nguyên văn hoá của khu vực).
+ Báo vệ rừng phòng hộ, các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên.
+ Hạn chế khai hoang chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp và di cư tự do.
+ Đóng cửa hoặc khai thác có hạn định các cánh rừng tự nhiên.
3. Tài nguyên đất canh tác (đất trồng trọt)
Hiện nay, nước ta có khoảng 22% diện tích đất tự nhiên được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp (khoảng hơn 7 triệu ha), trong đó trên 75% diện tích trồng lúa và 15% dành cho cây dài ngày. Các diện tích còn lại được sử dụng trồng cây lâu năm, cây công nghiệp, cây ãn quả, chãn thả gia súc và nuôi trồng thuỷ sản. Cây lương thực bao gồm ngô, khoai tây, vừng, lạc và đậu. Đất nông nghiệp chủ yếu thuộc các đồng bằng màu mỡ châu thố sông Hồng và sông Cửu Long. Những năm gần đây, sản xuất lúa gạo của nước ta không ngừng gia lăng nhưng bình quân lương thực trên đầu người vẫn còn thấp do độ gia lãng dân số rất nhanh. Để nâng cao năng suất cây trồng, người sản xuất đã đưa vào đất một khối lượng khá lớn các loại phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ và các hóa chất kích thích tãng trướng, làm suy giảm chất lượng nông sản, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.