Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Tác động của đô thị hoá

Tác động của đô thị hoá
Rate this post

1, Sự đô thị hóa ra đời từ khi nào trong lịch sử phát triển của nhân loại thì khó có thể xác định chính xác, nhưng những ý kiến cho rằng nó chỉ có thể bắt đầu vào lúc nền canh tác nông nghiệp đã ở trình độ cao, khi mà con người biết sử dụng hệ thống thủy lợi, biết dự trữ và bảo quản lương thực, có hệ thống trao đổi thương mại và giao thông vận tải… là điều đáng tin cậy. Bởi vì đô thị hóa chỉ có được khi dân số đô thị sống bằng lương thực do cộng đồng người nông thôn làm ra và cung cấp tới. Thời kỳ này vào khoảng 2.000 năm trước Công nguyên (năm 2000 BC). Mặt khác đô thị hóa còn phụ thuộc chặt chẽ vào thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm giải quyết những nhu cầu mà xã hội đô thị đặt ra cũng như những giá trị vật chất mà nền kinh tế đô thị đạt được. Do đó người ta xem đô thị hoá chỉ thực sự diễn ra khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp vào giữa thế kỷ XVIII, vì công nghiệp hoá kéo theo nhu cầu mở rộng các đô thị cũ và xây dựng các đô thị mới. Đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày một cao và quy mô ngày một lớn khi tiếp gần tới thời hiện đại.
Thế kỷ XX là thời kỳ bùng nổ các đô thị lớn. Năm 1960 thế giới chỉ có 19 thành phố trên 4 triệu dân, trong đó 9 thành phô thuộc các nước đang phát triển. Theo dự báo của UNDP, 1990. thì năm 2000 có khoảng 50 thành phố cỡ như vậy, và năm 2025 sẽ có 114 thành phố trên tổng số 135 thành phố cỡ này nằm tại các nước đang phát triển. Ngoài đô thị lớn, số lượng các đô thị trung bình và nhỏ không ngừng tãng lên.
Nếu so sánh nãm 1985 với năm 1950 thì dân số các đô thị lớn đã tăng 3 lần, thêm 1,25 tỷ người, trong đó các thành phố lớn ở những nước phát triển, có số dân tãng gần gấp đôi từ 450 triệu lên 840 triệu, còn ở những nước đang phát triển thì lại tãng gấp hơn 4 lần từ 285 triệu lên 1,15 tỷ.
Do sức hút đô thị (urban pull) quá mạnh, cộng thêm sức đẩy từ nông thôn (rural push) là nguyên nhân làm cho dân số đô thị tăng lên nhanh chóng đến như vậy, hình thành các đô thị lớn cũng như sự ra đời các siêu đô thị (megacity) và dãy liên đô thị (consolidated metropolital area) chứa tới 25 – 30 triệu dàn tương đương dân số của một quốc gia trung bình nhỏ.
Sự bùng nổ đô thị làm ảnh hưởng không nhỏ đến những vấn đề môi trường, kinh tế, xã hội và sức khoẻ cộng đồng. Việc quản trị môi trường đô thị đang trở nên bức xúc hơn bao giờ hết, đặc biệt vấn đề phát triển bền vững đang trải qua những thách thức to lớn.
Ví dụ như ở Hoa Kỳ năm 1800, dân số dô thị chiếm khoảng 6% dân số cả nước, thì năm 1850 tăng lên 15%, năm 1900 là 40% và hiện nay là trên 75%. Bảng 1.11 dưới đây cho biết biến động dân số đô thị ở các vùng khác nhau trên Thế giới trong thế kỷ XX.
Bảngl.ll. Biến động dân số đô thị trên thế giới
từ năm 1920 đến năm 2000 (đơn vị tính theo triệu ngưòi) [8]

2. Đặc điểm clân cư đô thị và môi trường
Do sự phát triển ồ ạt mang tính bùng nổ như vậy nên dán cư đô thị chủ yếu là di dân từ nông thôn ra. Các thành phố ở châu Mỹ Latinh phát triển được là nhờ 75% đến 100% dân nhập cư. Tuy nhiên điều này chỉ đúng với giai đoạn đô thị hoá ở các nước đang phát triển, khi vùng nông thôn bao quanh còn là vùng giầu tài nguyên sức lao động. Tại các nước công nghiệp, dân số nông thôn quá ít khiến cho đô thị phụ thuộc chủ yếu vào quá trình tăng dân số tự nhiên hoặc quá trình “ly tâm”. Đặc điểm này đã làm nảy sinh những vấn đề dân cư và môi trường đô thị, đó là:
a) Du nhập lối sống nông thôn lên đô thị
Lối sống là kết quả của thói quen và văn hoá lâu đời rất khó thay đổi, vì vậy quá trình nhập cư đã mang theo lối sống dân dã vào thành phố, trong nhiều trường hợp gây không ít khó khăn cho việc quản lý môi trường đô thị.
b) Tỉ lệ giới trong đô thị và việc làm cho phụ nữ
Trong cộng đồng nhập cư, ở các đô thị châu Âu, châu Mỹ thì nữ giới nhiều hơn nam giới, còn ở các đô thị châu Á, châu Phi thì ngược lại nam nhiều hơn nữ. Vì thế phụ nữ nhập cư ở các đô thị này khó có cơ hội tìm việc làm tốt hơn. Trong số các vùng đang phát triển, chỉ có các đô thị của châu Mỹ Latinh, tỉ lệ nữ trong cộng đồng nhập cư cao hơn nam giới và cũng là nơi có nhiều cơ hội việc làm tốt hơn cho phụ nữ.
Có sự khác biệt về giới ở đô thị châu Âu, châu Mỹ so với đô thị ở châu Á, châu Phi là do phương thức canh tác nông nghiệp ở các châu lục này rất khác nhau. Tại châu Âu, châu Mỹ thì đàn ông làm phần lớn công việc đồng áng, còn châu Á, châu Phi (kể cả các nước Arập và Ân Độ) thì vai trò phụ nữ là chính trong canh tác nông nghiệp. Những lực lượng lao động phụ ở nông thôn đã tạo nên tính chất giới trong cộng đồng nhập cư vào các đô thị.
Gần đây tỉ lệ nữ trong các đô thị châu Á bắt đầu nhích lên do có sự thu hút lao động nữ vào các ngành sản xuất nhẹ như dệt, điện tử, dịch vụ… và cũng còn do tăng cường nữ quyền và tăng dần độ tuổi kết hôn.
a) Làm tăng độ mắn tổng số (TFR – Total Fertility Rate) của đô thị.
Độ mắn tổng số là một chỉ tiêu phản ánh lượng sinh sản của cộng đồng, nó chính là số con trung bình có thể được sinh ra bởi một người mẹ trong cộng đồng suốt thời sinh nở từ 15 đến 49 tuổi. Mặc dù độ mắn tổng số của người nhập cư từ nông thôn lên đổ thị thấp hơn so với vùng nông thôn họ ra đi, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với vùng đô thị họ nhập cư.
b) Quá trình ly tâm (suburbanization) và hướng tâm (centrifrication) xuất hiện đã làm thay đổi hình thái phát triển đô thị
Từ 1920 đến 1960, quá trình ly tâm phổ biến rộng rãi ở hầu khắp các thành phô trên thế giới, đó là hiện tượng di dân từ trung tâm (City hoặc Town) ra lớp ngoài (suburb hoặc marginal area) làm tăng trưởng dân số ở vùng ngoại ô nhanh hơn vùng trung tâm. Lý do để dẫn đến xu hướng này là môi trường đô thị vùng trung tâm ngày một trớ nên ngột ngạt, không gian chật chội, ô nhiễm không khí và tiếng ồn vượt quá mức chịu đựng của con ngươi, thiếu cây xanh và cảnh quan, đô thị không còn sức thu hút và ngày càng trớ nên nhàm chán. Mặt khác giao thông đô thị ngày càng có điều kiện thuận lợi hơn, quãng đường từ nhà đến công sở ở trung tâm thành phố không còn tính bằng khoảng cách nữa mà thay vào đó là quãng thời gian tính bằng phút sử dụng phương tiện giao thông. Các khu ở trong trung tâm thành phố trước đây, giờ chỉ còn lại những người có thu nhập trung bình và thấp.
Kể từ những nãm 1970, quá trình ly tâm lại tiếp tục một giai đoạn mới. Những người có thu nhập cao tiếp tục chuyển định cư sang vành đai xa hơn vể phía bên ngoài thành phố, lý do vì khu ngoại ô cũ nay không còn như xưa nữa, mà đã biến thành thành phố với các toà nhà trung tâm thương mại, các toà nhà văn phòng, các xí nghiệp công nghệ cao, các đầu mối giao thông… đã được xây dựng lên. Bên cạnh đó những người dân ngoại ô cũ lại nghèo cũng không trụ nổi vì đất đai của họ bị mất dần do vùng ngoại ô nay đa là thành phố, họ phải rời ra xa hơn để định cư. Tất cả tạo nên dòng di cư ly tâm mới (exsuburbanization).
Trong khi đó những người có thu nhập thấp hơn lại tràn ngược vào cư trú ở các khu nhà chật chội đã xuống cấp tại trung tâm thành phố để có cơ hội kiếm việc làm. Bên cạnh đó có những người giầu thu nhập cao cũng tấn công vào thành phố trung tâm mua các cãn hộ cũ rẻ tiền để cải tạo lại nhằm mục đích ở và kinh doanh. Tất cả đã tạo nên dòng di cư vào trung tâm thành phố, được gọi là quá trình hướng tâm (centrifrication).
Như vậy quá trình ly tâm và quá trình hướng tâm đều có những người thu nhập cao và người thu nhập thấp. Nhưng nhìn chung xu thế ly tâm làm tăng các vùng định cư xa trung tâm thành phố, biến trung tâm thành phố thành khu cơ quan, công sở, ngân hàng, khách sạn, bảo tàng… với mật độ dân số định cư ngày một giảm dần. Hiện tượng mang tính quy luật khách quan này giúp chúng ta định hướng phát triển không gian dô thị cũng như chiến lược phát triển giao thông đô thị, bô’ trí các khu định cư hợp lý… tất cả nhằm đạt được một môi trường đô thị bền vững.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.