Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Sự tác động của con người đôi với môi trường thiên nhiên (P3)

Sự tác động của con người đôi với môi trường thiên nhiên (P3)
Rate this post

Việc sử dụng tài nguyên nước trên toàn cầu hiện nay có những vấn đề sau đây:
– Nước phân bô’ không đều trẽn bề mặt Trái đất. Lượng mưa trung bình ớ sa mạc dưới 100 mm/nãm, trong khi đó lượng mưa ở nhiều vùng nhiệt đới lại rất lớn như An Độ lên tới 5.000 mm/năm, nên hạn hán có thê xảy ở vùng này thì vùng kia lại bị úng lụt. Những vùng mưa ít, nước mặt và nước ngầm không đủ cho sinh hoạt và sản xuất. Nhiều nước ở Trung Đông phải sản xuất nước ngọt từ nhà máy chưng cất nước biển, hoặc mua từ quốc gia khác, thậm chí phải lấy từ băng ở Nam Cực. Trước đây khí hậu điều hòa, mưa phân bố đều hơn và nhờ các dòng sông chạy dài xuvên qua các vùng, nên nước phân phối tương đối đều khắp . Nhiều vùng sa mạc ngày nay xưa kia đã từng là vùng trù phú, có những hệ sinh thái tự nhiên đầy tiềm nãng. Những biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong giai đoạn ngày nay, nguyên nhân là do con người gây ra trong quá trình phát triển đã và đang làm trầm trọng thêm sự phân bố tài nguyên nước không đều trên Trái đất.
– Do nhiều nguyên nhân, ngày nay con người khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên nước hơn. Lượng nước ngầm khai thác trên Thế giới nãm 1990 tãng gấp 30 lần lượng khai thác năm 1960. Điều này làm cho nguồn nước sạch lục địa có nguy cơ giảm về trữ lượng, gây ra những biến động mạnh mẽ của cân bàng nước tự nhiên. Hậu quả sẽ như thế nào cho sự sống trên Trái đất thật khó mà lường trước được.
– Các nguồn nước trên Trái đất (nước mặt, nước ngầm và cả nước biển) đang bị ỏ nhiễm do các hoạt động của con người bởi các tác nhân như: NOj, P04, các loại thuốc trừ sâu và hóa chất, các kim loại nặng, các chất hữu cơ các vi sinh vật gây bệnh v.v… Cho nên việc đảm bảo nguồn nước sạch đang là mục tiêu hàng đầu của các tổ chức môi trường quốc tế và quốc gia. Trong khoảng 10 nãm từ 1980 – 1990 Thế giới đã phải chi 300 tỷ USD cho chương trình cung cấp nước sạch đáp ứng nhu cầu của 79% dân cư đô thị và 41% dân cư nông thôn ở những vùng thiếu nước trên thế giới.
– Tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước sạch ngày một nhiều, được chia ra làm nhiều nhóm dưới đây:
+ Nhóm Kim loại nặng (As, Pb, Cr, Sb, Cd, Hg, Mo, Ai, Cu, Zn, Fe, Mn..). Chúng tích lũy theo chuỗi thức ãn thâm nhập vào trong cơ thể con người, khi đạt liều lượng nhất định sẽ gây bệnh. Một số chất có khả năng gây ung thư như Cr, Cd, Pb, Ni.
+ Nhóm Anion (CN, F, NO3, Cl, S04) có độc tính cao điển hình là xyanua (CN), ion F làm yếu men răng gây sâu và sún rãng, khi có nồng độ cao gây hủy hoại răng. Có những vùng dân cư do sử dụng nước ãn có chứa nhiều ion này đã gây hỏng răng trong cả cộng đồng, ion nitrat (NO 3) trong nước có thể chuyển thành (NOj) gây bệnh
methoglobin và hình thành hợp chất nitrozamem gây bệnh ung thư. Các ion (C1 ) và (S042) tuy không độc nhưng thâm nhập với nồng độ cao cũng gây ra bệnh ung thư. Các hợp chất phenon hoặc ancaloit rất độc với người và gia súc.
+ Nhóm Hóa chất độc hại (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, dioxin) tồn tại trong môi trường nước không chỉ thâm nhập vào cơ thể qua chuỗi thức ăn gây tác hại lâu dài mà còn có thê gây ngộ độc trực tiếp như ngộ độc thực phẩm, một số loại Clo hữu cơ như chất 2,4D là tác nhân gây ung thư mạnh.
+ Nhóm Các sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, ký sinh trùng gây bệnh) trong môi trường nước sinh xôi nảy nờ nhanh, lan tràn thuận lợi, trở thành dịch bệnh rất nguy hiểm.
Tài nguyên nước của Việt Nam thuộc loại phong phú trên Thế giới, có lượng mưa trung bình hàng năm cao khoảng 2000 mm/năm, gấp 2,6 lần lượng mưa trung bình của vùng lục địa trên Thế giới. Những vùng mưa nhiều là Bắc Quang, Hoàng Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn, Đèo Cả, Bảo lộc, Phú Quốc có vũ lượng là hàng ngàn mi li mét trong năm. Những vùng mưa ít nhất là Ninh Thuận, Bình Thuận vũ lượng không vượt quá con số hàng trăm mi li mét trong năm. Tổng lượng mưa trên toàn bộ lãnh thổ là 650 knr/năm, tạo ra dòng chảy mặt trong vùng nội địa là 325 kmVnăm. Ngoài dòng chảy phát sinh trong vùng nội địa, hàng nãm lãnh thổ nước ta nhận thêm lưu lượng nước từ vùng Nam Trung Quốc, Lào, Căm Pu Chia khoảng 550 km3/năm. Tuy lượng khai thác nước ngầm ở toàn lãnh thổ nước ta có thể đạt 10 triệu m’Vngay, nước mặt khoảng 150 km3/nãm, nhưng do mật độ dân số vào loại cao nên bình quân lượng nước phát sinh trong lãnh thổ chỉ là 4200 mVngười năm, vào loại trung bình thấp của Thế giới. Vì vậy việc bảo vệ tài nguyên nước, giữ gìn nguồn nước sạch phục vụ dân sinh, nông nghiệp, công nghiệp hóa, đô thị hóa cũng như bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên có liên quan khác là không thể xem nhẹ. Những vấn đề môi trường liên quan tới tài nguyên nước Việt Nam ở những mặt sau:
– Tình trạng thiểu nước mùa khỏ và lũ lụt mùa mưa, đang xảy ra ở nhiều địa phương với mức độ ngày một nghiêm trọng. Hiện tượng giảm trữ lượng nước hồ thủy điện lớn (Thác Bà, Trị An, Hòa Bình…), hoặc hiện tượng xuất hiện lũ quét ớ các tỉnh vào mùa mưa (Sơn La, Tuyên Quang, Nghệ An…) liên tiếp trong những năm gần đây là hậu quả của việc chặt phá rừng diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi, đặc biệt rừng phòng hộ đầu nguồn, ở lưu vực các dòng sông không còn hiệu quả điều hòa nguồn nước.
Tình trạng trên có tác động tiêu cực đến canh tác nón g nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt dân cư. Không phải chỉ những vùng đô thị thiếu nước mà nhiều vùng nông thôn miền núi, trung du cũng rơi vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt. Kết quả tính toán cân bằng nước năm 2000 và 2010 cho thấy: nhu cầu dùng nước trong mùa khô của các địa phương trong nước ta đều vượt 30% so với tổng lượng nước đến. Đặc biệt vùng Nam Trung Bộ có nhu cầu vượt 70 – 90%. Theo tiêu chuẩn của FAO, lượng nước sử dụng không được vượt quá 30% tổng lượng nước đến, thì Việt Nam là khu vực thiếu nước trong mùa khô.
– Tình trạng ô nhiễm nước ngầm, đang xảy ra ở các đô thị lớn và các tỉnh đồng bằng, do nước thải và chất thải sinh hoạt không được thu gom cộng với công tác khoan đất làm móng trong xây dựng, khoan thăm dò, khoan giếng bừa bãi. Tinh trạng cạn kiệt nguồn nước ngầm do khai thác nước phục vụ nhu cầu đô thị quá lớn làm thay đổi cân bằng áp suất trong nhiều khu vực nước ngầm gây nên lún sụt những vùng đất trong đô thị, dặc biệt các thấu kính nước ngầm ở đổng bằng Nam Bộ bị khai thác quá mức gây mất cân bằng áp suất đang bị mặn hóa do nước biển ngấm vào.
– Tình trạng ô nhiễm nước mặt ở sông, hồ, và các vìtnẹ đất n íịập nước do các nguồn thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt tập trung (điểm dân cư, điểm du lịch) ngày một gia tăng. Mức độ phú dưỡng của nước hồ nội địa tăng cao. Tại một số cửa sông đang bị ô nhiễm dầu, kim loại nặng, thuốc trừ sâu, đã vượt quá tiêu chuẩn môi trường.
Đế giải quyết vấn đề môi trường nước nêu trên, chúng ta cần phải có kế hoạch nghiên cứu tổng thể và Quy hoạch sử dụng tài nguyên nước sao cho hợp lý đồng thời phải có kế hoạch nuôi dưỡng nguồn nước như khôi phục rừng nhất là rừng đầu nguồn. Thay đổi dần phương thức và kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp để tránh ô nhiễm hóa học cho nguồn nước. Các vấn đề xử lý nước thải, quy hoạch các công trình thủy điện, thủy nông phải trên cơ sở bảo vệ và phát triển tài nguyên nước. Mặt khác phải tiết kiệm nước trong sản xuất đặc biệt là sản xuất công nghiệp bằng cách thay đổi quy trình công nghệ dùng nhiều nước bằng công nghệ dùng ít nước . Tăng cường hộ thống hồ chứa đê đáp ứng nhu cầu sử dụng nước trong mùa khô v.v…

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.