Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Sự tác động của con người đôi với môi trường thiên nhiên (P1)

Sự tác động của con người đôi với môi trường thiên nhiên (P1)
Rate this post

Sự phát triển của con người trong suốt chiều dài lịch sử, trải qua nhiều thế hệ, đã đem lại một giá trị đích thực đó là nền văn minh nhân loại mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng. Song bèn cạnh mặt tích cực ấy, con người đã tác động vào môi trường thiên nhiên và để lại hậu quả nặng nề ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh vực. “Hãy cứu lấy Trái Đất’’ là một tài liệu do ba tổ chức: UNEP (Chương trình môi trường Liên hợp quốc), WWF (Quỹ quốc tế bảo vệ động vật hoang dã), IUCN (Liên minh bảo tồn Thế giới) xuất bản năm 1991 được xem như một tuyên ngôn, một kêu cứu trước nhân loại. Nhân loại cần thiết phải có một kiểu phát triển mới phù hợp hơn, khác với kiểu phát triển đang thịnh hành hiện nay.
Để trả lời cho vấn để này chúng ta cần biết thực trạng sự tác động của con người vào môi trường thiên nhiên như thế nào? Sự tác động này diễn ra khá đa dạng và ở nhiều quy mô khác nhau, nhưng có thể quy về năm hình thức cơ bản sau đây:
.1. Khai thác tài nguyên thiên nhiên
I. Khai thác tài nguyên đất
Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người. Đất có hai- nghĩa, thứ nhất với nghĩa đất đai (land) là nơi ở và xây dựng cơ sở hạ tầng của con người, thứ hai với nghĩa thổ nhưỡng (soil) là mặt bằng sản xuất nông lâm nghiệp.
+ Giá trị thổ nhưỡng của tài nguyên đất được tính bằng số lượng diện tích (ha, hay km2) và độ phì (độ mầu mỡ thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp và lương thực).
+ Giá trị đất đai của tài nguyên đất được thể hiện qua diện tích và các thông số kỹ thuật xây dựng công trình. Đó là xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật như nhà ở, đường giao thông, khu công nghiệp và đô thị.
Theo số liệu thống kê năm 1980, tài nguyên đất của Thế giới bao gồm tống diện tích là 14.777 triệu ha, trong đó có 526 triệu ha đất đóng băng. Đất đang canh tác chiếm 12% tổng diện tích, đất đồng cỏ chiếm 24%, đất rừng chiếm 32%, còn lại 32% là đất cư trú và đầm lầy. Diện tích đất có khả nãng canh tác chiếm khoảng 3.200 triệu ha (cỡ 21% tổng diện tích tài nguyên đất của thế giới), nhưng chỉ mới khai thác được 1.500 triệu ha. Tỷ lệ đất đang canh tác trên đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển cũng mới chỉ chiếm tới 70%, còn ở các nước đang phát triển thì mới là 36%. Nguyên nhân không phái là dư thừa đất canh tác, mà là không đủ điều kiện để khai thác ví như thiếu nước tưới mà không có khả năng khắc phục (kỹ thuật, nguồn vốn chưa cho phép), hoặc điều kiện khí hậu không phù hợp, thiên tai xảy ra thường xuyên chưa khắc phục được, hoặc đất bị xói mòn bạc mầu cho nãng suất thấp dẫn đến thua lỗ trong đầu tư.
Thực trạng tài nguyên đất của Thế giới hiện đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân: xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn, ô nhiễm chất thải, biến đổi khí hậu. Hiện nay có tới 10% đất có tiềm năng canh tác nông nghiệp đang bị sa mạc hóa. Thí dụ như tốc độ dịch chuyển ranh giới sa mạc Xahara là 100 m/nãm, tương ứng với sự gia tăng diện tích sa mạc là 100.000 ha/năm. Ở Trung Quốc đất bị thoái hóa là 280 triệu ha, chiếm 30% diện tích lãnh thổ, có tới 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng và 6,67 triệu ha bị chua mạn, 4 triệu ha úng lầy. Ân Độ hàng nãm bị mất khoảng 3,7 triệu ha đất canh tác cũng do những nguyên nhân trên.
Về ô nhiễm đất do con người gây ra có thể phân loại theo nguyên nhân: chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải do các hoạt động nông nghiệp, do ô nhiễm nước và không khí từ các khu dân cư tập trung. Tổng hợp sự ô nhiễm này đã gây nên sự phá hủy môi trường đất dưới các dạng tác nhân hóa học, sinh học và vật lý.
Bảng 1.4. Tình hình sử dụng đất trên Thê giới

– Tác nhân hóa học của ô nhiễm đất bao gồm sự có mặt của dư lượng phân bón như Đạm (N); Lân (P);Kali (K), thuốc trừ sâu các dạng: Clo hữu cơ; DĐT; Lin dan; Aldrin; phôtpho hữu cơ, các kim loại nặng, độ kiềm, độ axít …
– Tác nhân sinh học là các loại trực khuẩn lỵ, thương hàn, coli… các loại ký sinh trùng giun, sán V…V…
– Tác nhân vật lý là nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân hủy chất thải của vi sinh vật, hoà tan và hấp thụ các nguyên tố trong đất của thực vật), các chất phóng xạ như u, Th, Sr90,1131 , Cs137 V.V..
Tài nguyên đất của Việt Nam so với Thế giới là rất hạn hẹp, có khoảng 33 triệu ha, trong đó gồm 22 triệu ha deluvi phong hóa và 11 triệu ha bồi tụ, phân bổ thành các loại như sau: đất lâm nghiệp là 11,8 triệu ha chiếm 35,7%; đất nông nghiệp là 7 triệu ha chiếm 21%; đất chuyên dụng là 1,4 triệu ha chiếm 4,2%; đất chưa sử dụng là 13 triệu ha chiếm 39%. Diện tích đất bình quân đầu người của nước ta hiện nay là 0,45 ha/người bằng 17% mức trung bình Thế giới (2,37 ha/người), trong đó đất nông nghiệp chỉ là 0,095 ha/người bằng 53% mức trung bình châu Á và bằng 10% mức trung bình thế giới. Trong 7 triệu ha đất nông nghiệp, chỉ có 4,7 triệu ha trồng lúa (bình quân 0,063 ha/người hay bằng 1,75 sào Bắc Bộ) nhưng đang bị thu hẹp hàng nãm do mở rộng và phát triển đô thị, các khu công nghiệp ở vùng đồng bằng, dãn dân, mở rộng hệ thống giao thông và thủy lợi ớ các vùng nông thôn. Đáng lo ngại là trong tổng giá trị tài nguyên đất 33 triệu ha thì hiện có 11 triệu ha đất đồi núi đang bị xói mòn thành đồi trọc. Lượng đất trôi hàng năm là 150 – 170 tấn/ha, (tương ứng mất đi 550kg hữu cơ, 199kg đạm (N), 163kg lân (P), 28 – 33kg (Ca. Mg) trên 1 ha đất canh tác trong 1 năm). Lượng đất nhiễm mặn lên tới
175.0 ha, nhiễm phèn là 602.190 ha, đất có nguy cơ bị sụt lở vùng ven biển, ven sóng có khoảng 1 triệu ha gây trở ngại cho canh tác cũng như xây dựng làng mạc và đe doạ tính bền vững của các dòng chẩy ảnh hưởng tới HST ở các đới ven bờ và lưu vực.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.