Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Sự ra đời và phát triển của đánh giá tác động môi trường

Sự ra đời và phát triển của đánh giá tác động môi trường
Rate this post

Người ta lấy năm 1969, năm thông qua Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ (NEPA), làm thời điểm ra đời của Đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Bởi vì trong Đạo luật này có những điều quy định, yêu cầu cần phải tiến hành đánh giá tác động môi trường của các hoạt động lớn, hoạt động quan trọng có thể gây tác động đáng kể đến môi trường.
Theo tác giả Phạm Ngọc Hồ, Hoàng Xuân Cơ [4] việc chọn thời điểm như vậy là chấp nhận được, vì hai lý do sau:
Thứ nhất, môi trường được con người nhận thức từ rất lâu, nhưng thuật ngữ môi trường và vấn đề môi trường cũng chỉ mới được quan tâm và đặt ra từ những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước.
Thứ hai, một số thuật ngữ dùng trong công tác đánh giá tác động môi trường đều có liên quan đến quá trình tuân thủ Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ, được ra đời như:
– Kiểm kê hiện trạng môi trường (Environmental Inventory -EI) là hoạt động nhằm mô tả toàn diện về môi trường đang tồn tại ở vùng dự định đặt dự án hoặc vùng có xảy ra các hoạt động về môi trường. Việc kiểm kê phải đề cập đến các yếu tố lý hoá của môi trường như thổ nhưỡng, địa chất, địa hình, khí hậu, nước mặt, nước ngầm, chất lượng không khí…; Các yếu tố mỏi trường sinh học như động thực vật, đa dạng sinh học, các hệ sinh thái…; Môi trường nhân văn như khảo cổ, di tích lịch sử vãn hoá, danh lam thắng cảnh, di sản…; Môi trường kinh tế xã hội như dân số và phân bố dân số, mức sống, điều kiện giáo dục, hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật cùng các dịch vụ công cộng khác.
– Đánh giá tác động môi trường (Environmental Impact Assessment- EIA, tiếng Việt viết tắt là ĐTM) là sự xác định, đánh giá các tác động (hay ảnh hưởng) có thể xảy ra của các dự án tới môi trường.
– Tường trình hay báo cáo tác động môi trường (Environmental Impact Submission – EIS), là văn bản tường trình tất cả kết quả của công tác đánh giá tác động môi trường đã tiến hành đối với một dự án.
– Mật khác, điều 102 của Đạo luật chính sách môi trường Mỹ còn quy định về đánh giá tác động môi trường gồm 3 điểm cụ thể sau đây:
+ Yêu cầu tất cả các cơ quan, công sở Liên bang phải tiếp cận đánh giá tác động môi trường một cách có hệ thống, liên ngành trong quá trình Quy hoạch và ra các quyết định có khả năng tác động đến môi trường.
+ Yêu cầu tất cả các cơ sở xác định, phát triển các phương pháp và thủ tục nhằm đảm bảo các giá trị môi trường cùng với việc xem xét các khía cạnh kinh tế – kỹ thuật, ra quyết định thực thi các dự án phát triển.
+ Chỉ ra sự cần thiết đối với việc soạn thảo báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác định nội dung cần có của báo cáo này.
Sau Mỹ, Đánh giá tác động môi trường được áp dụng ở nhiều nước. Nhóm các nước sớm nhất gồm: Nhật, Singapo, Hồng Kông (1972), tiếp theo là Canada (1973), úc (1974), Đức (1975), Pháp (1976), Philippin (1977), Trung Quốc (1979).
Bảng 2.1 và 2.2 dưới đây cho thấy chỉ trong vòng 20 năm, công tác đánh giá tác động môi trường đã được nhiều nước xem xét, áp dụng.
Bảng 2.1. Yêu cầu chính thức đối với ĐTM ở các quốc gia tính đến tháng 7 năm 1993. (Nguồn: Alan Gilpin 1995) [4]

 Bảng 2.2. Luật/Quy định của một số quốc gia liên quan tới ĐTM [4]

Nguồn : E. Ichem, 1994.

Tuy nhiên yêu cầu đối với ĐTM còn khác nhau giữa các nước ở các điểm sau:
– Quy địmh loại dự án cần phải ĐTM -Vai trò của cộng đồng trong ĐTM
– Thủ tục hành chính thực hiện ĐTM
– Các đặc trưng lược duyệt ĐTM
Ngoài ra, các tổ chức quốc tế cũng rất quan tâm đến công tác ĐTM. Nhũng tổ chức có nhiều đóng góp cho công tác này trước hết phải kể đến Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Cơ quan phát triển quốc tế của Mỹ (USAID), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) V.V..
Tiếng nói của ngân hàng trong trường hợp này rất có hiệu lực vì họ nắm trong tay nguồn tài chính mà các dự án rất cần cho sự đầu tư của mình. Một công việc mà các tổ chức này thực hiện rất có hiệu quả là mở các khóa học về ĐTM ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Ớ Việt Nam, năm 1975 mới giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, chúng ta còn phải tập trung vào công cuộc khôi phục lại sau chiến tranh. Tuy vậy ngay từ đầu những nãm 80 của thế kỷ trước, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận công tác ĐTM thông qua các hội thảo khoa học cũng như các khóa đào tạo môi trường và ĐTM. Đầu tiên là GS Lê Thạc Cán đứng đầu một nhóm gồm 7 nhà khoa học Việt Nam, đã đến Trung tâm Đông – Tây ở Honolulu (Mỹ) nhằm nghiên cứu về luật, chính sách môi trường nói chung và ĐTM nói riêng. Sự kiện này không chỉ mở đầu cho công tác nghiên cứu môi trường ở nước ta, mà còn mang tính tiếp cận và hoà nhập với cộng đồng quốc tế.
Ngay trong thời gian từ 1978 đến 1990, do nhu cầu phát triển kinh tế, Việt Nam đã đầu tư vào nhiều chương trình điều tra cơ bản cho các vùng Tây Nguyên, vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh giáp biển Miền Trung… Nhưng những số liệu thu được từ các chương trình này được phân tích dựa trên phương pháp tiếp cận tương tự như công tác kiểm kê hiện trạng môi trường được quy định trong NEPA. Đặc biệt sau nãm 1990, lại cho tiến hành chương trình nghiên cứu môi trường mang mã số KT02, trong đó có một đề tài trực tiếp nghiên cứu về ĐTM mang mã số KT02-16 do GS Lê Thạc Cán chủ trì. Trong khuôn khổ đề tài này, một số báo cáo ĐTM mẫu đã được lập, đáng chú ý là báo cáo ĐTM nhà máy giấy Bãi Bằng và ĐTM công trình thủy lợi Thạch Nham. Mặc dù lúc này ĐTM chưa có tính pháp lý, song Đảng và Nhà nước ta đã nhìn thấy trước nhiệm vụ được đặt ra và yêu cầu một số dự án cần phải thực hiện ĐTM như thủy điện Trị An, nhà máy lọc dầu Thành Tuy Hạ.
Nãm 1993, Luật Bảo vệ môi trường lần đầu tiên của nước ta ra đời thì một loạt cơ quan quản lý môi trường đã được thành lập như Cục Môi trường trong Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường), các Sớ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường) ở các địa phương cấp tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương. Các trung tâm, các viện nghiên cứu và theo dõi các vấn đế mỏi trường lần lượt ra đời trong cả nước nhằm đảm nhận công tác lập báo cáo ĐTM hoặc thẩm định loại báo cáo này.
Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Bảo vệ môi trường 1993 đã được thay thế bằng Luật Bảo vệ môi trường 2005 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006) với nhiều nội dung thiết thực và cụ thể hơn. Luật đã dành riêng 6 điều ở chương 3 (từ điều 18 đến điều 23) quy định về Đánh giá tác động môi trường.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.