Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Sinh thái xã hội

Sinh thái xã hội
Rate this post

Một trong những phạm trù của sinh thái học nhân văn là sinh thái xã hội. Thuật ngữ sinh thái xã hội là “Human Ecology”, nó chính là hệ sinh thái con người mang tính cộng dồng được đặc trưng bằng cấu trúc xã hội. Nhờ có cấu trúc xã hội cũng như quá trình phát triển của nó mà nhân loại mới có được những tiến bộ như ngày nay.
Khác với sự sống trong thế giới sinh vật, sự sống của con người được thể hiện ở hai khía cạnh:
– Khía cạnh sống tự nhiên, là những nhu cầu thuần túy mang tính vật chất (nhu cầu ăn, mặc, ở) để con người tồn tại và phát triển về thể lực cũng như số lượng.
– Khía cạnh quan hệ xã hội, là những nhu cầu tinh thần để con người phát triển toàn diện về trí tuệ (văn hóa, tri thức, trao đổi kinh nghiệm, truyền bá, giáo dục, đào tạo…).
Hai khía cạnh nêu trên của sự sống con người không phải là tách biệt, mà ngược lại chúng có quan hệ với nhau rất chặt chẽ, khía cạnh này bổ trợ cho khía cạnh kia cùng phát triển, nhưng xã hội càng tiến bộ thì mối quan.hệ xã hội càng có tính quyết định lớn hơn. Bởi vì khía cạnh sống tự nhiên của con người bị chi phối bởi khía cạnh quan hệ xã hội và do khía cạnh này mang lại, điều này giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội văn minh hiện nay. Con người tồn tại phải có ări, mặc, ở nhưng đáp ứng ba điểu đó là do mối quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất cũng như sự phân công của xã hội quyết định.
Nhu cầu quan hệ xã hội của con người có từ rất sớm và đòi hỏi ngày một cao. Điều này đã được chứng minh thông qua từng thời kỳ phát triển của lịch sử nhân loại và đó cũng là thuộc tính của xã hội loài người. Tốc độ phát triển của nó càng lớn khi nhân loại càng tiếp cận tới thời hiện đại. Minh họa cho vấn đề này chúng ta hãy nghiên cứu Quy hoạch đời sống của người Phần Lan, giai đoạn 15 năm từ 1980 đến 1995 trong bảng 1.13 dưới đây.
Bảng 1.13. Quy hoạch phát triển đời sống của Phần Lan giai đoạn 1980 -1995
Stt Chi phí cho các nhu cầu sống 1980 1995
1 Ăn 22% 16%
2 Uống & chi phí như mỹ phẩm, sinh hoạt cá nhân 7% 8%
3 Mặc 5% 3%
4 Ở 19% 22%
5 Trang bị gia đình 7% 5%
6 Giao thông 18% 19%
7 Nghỉ ngơi 8% 12%
8 Thứ khác (các phục vụ bên ngoài như khách sạn…) 14% 15%
Nguồn IRS, 1985 (tỉ lệ % theo ngân sách)

Phân tích trên bảng 1.13, ta thấy các nhu cầu (1), (3), (5) ngày càng có xu hướng giảm đi, ngược lại các nhu cầu (2), (4), (6), (7), (8) ngày càng tăng lên là một thực tế khách quan. Điều ấy cũng có nghĩa là mối quan hệ xã hội của con người đòi hỏi ngày một cao hơn. Ngày nay người ta xem các nhu cầu (2), (4), (6), (7), (8) như là xuất hiện “không gian sống thứ hai” của con người.
Như vậy người làm công tác Kiến trúc và quy hoạch xây dựng luôn luôn phải tư duy và đáp ứng nhu cầu này của xã hội. Kiến tạo các không gian phục vụ nhu cầu của con người không chỉ thỏa mãn các nhu cầu sống tự nhiên mà còn đáp ứng các nhu cầu quan hệ xã hội ngày càng tăng. Hay nói một cách khác sinh thái xã hội chi phối công tác Kiến trúc và Quy hoạch xây dựng không chỉ ở mức độ hay quy mô xây dựng, mà chính là “hình thái phát triển” của nó trong tương lai.
Sinh thái nông thôn (Rural Ecology) và sinh thái đô thị (Urban Ecology) là các phân hệ sinh thái xã hội riêng biệt, nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, thông qua một tính chất đặc trưng của xã hội loài người, một hiện tượng mà hình thức biểu hiện khía cạnh sống tự nhiên nhưng nội dung lại do tính chất xã hội chi phối. Hiên tượng đó là di cưđịnh cư.
Ị. Di cư (Migration)
Là hiện tượng chuyển dịch dòng người vì lý do làm ăn sinh sống từ vùng này đến vùng khác trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng di cư, vì vậy tùy thuộc mục đích của nó mà người ta phân ra các loại di cư sau đây (nhiều tài liệu tiếng Việt dùng là dịch cư):
a) Di cư do sự thu hút của tài nguyên thiên nhiên (resorb – based Migration)
b) Di cư bắt buộc có khuyến khích theo yêu cầu phân bố dân cư (Tied – up Migration).
c) Di cư đi làm ăn trong thời gian ngắn theo mùa vụ (Seasonal Migration).
d) Di cư giao hoán giữa Thành thị và Nông thôn (commutation Migration).
đ) Di cư thông thường do yêu cầu cư trú đơn thuần (General Migration)
Trong 5 loại trên, thì di cư do sự thu hút của tài nguyên thiên nhiên là diễn ra mạnh nhất. Các loại di cư đã tạo nên bốn dòng người chuyển dịch trong không gian lãnh thổ theo các phương như sau:
+ Dòng người dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị.
+ Dòng người dịch chuyển từ vùng nông thôn nhỏ bé ít tiềm năng đến vùng nông thôn rộng lớn có nhiều tiềm năng hơn.
+ Dòng người dịch chuyển từ đô thị nhỏ đến đô thị lớn.
+ Dòng người dịch chuyển từ đô thị về nông thôn hoặc từ đô thị lớn về đô thị nhỏ. Vì sự hấp dẫn di cư chủ yếu là mục tiêu kinh tế (công ăn việc làm, thu nhập nâng cao đời sống vật chất, tinh thần), nên dòng dịch chuyển này được gọi là dòng ngược, nguyên nhân của nó là sự đào thải do thiếu những khả năng thích ứng trong cuộc sống hoặc rủi ro trong tìm kiếm công ãn việc làm. Tuy nhiên trong thực tế dòng ngược này là nhỏ và không phải là quy luật phổ biến.
Nghiên cứu hiện tượng di cư ở các quốc gia trên Thế giới, cho thấy ở những nước phát triển hiện tượng di cư xảy ra không mạnh mẽ như ở các nước đang phát triển. Nguyên nhân cơ bản là do giữa các nước này có sự khác biệt về trình độ quy hoạch kinh tế phát triển vùng. Khi giữa các vùng phát triển còn ở tình trạng bất ổn định và tồn tại sự khác biệt lớn về kinh tế và văn hóa, đặc biệt là sự khác biệt quá lớn giữa đô thị và nông thôn như tình trạng của các nước đang phát triển, thì hiện tượng di cư còn là điều trở ngại đối với sự phát triển của một quốc gia. Di cư gây nên những bất bình ổn xã hội như phân bỏ nguồn nhân lực, tổ chức lực lương sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong công tác quy hoạch vùng và đặc biệt là quy hoạch phát triển đô thị, chúng luôn luôn làm cho các vùng đô thị trở nên quá tải, làm cho hệ sinh thái đô thị vốn đã khó cân bàng lại thêm mất cân bằng nghiêm trọng. Mặt khác để hạn chế hiện tượng di cư, tạo nên sự ổn định cho sự phát triển chung, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có chính sách phát triển hợp lý, phát triển kinh tế xã hội cân bằng giữa các vùng. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa phải gắn liền với phát triển nông nghiệp và những ngành kinh tế nông thôn khác. Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa giáo dục, không chỉ nâng cao đời sống vật chất mà phải nâng cao cả đời sống tinh thần của cộng đổng dân cư trong các khu vực, chú ý đặc biệt đến những vùng sâu vùng xa. Mạng lưới quy hoạch giao thông và hệ thống đô thị trong vùng phải được quan tâm phát triển thích đáng se là những phương tiện hữu ích góp phần vào sự cân bằng của hệ sinh thái xã hội khu vực, và có liên quan tới một hiện tượng khác đó là định cư.

2. Định cư (Human Settlement)
Là những vấn đề thuộc về cư trú, cư ngụ của con người. Nó có tầm quan trọng trong việc ổn định xã hội và bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường tự nhiên. Vì vậy mà tháng 6 nãm 1976, Chương trình môi trường Liên Họp Quốc (UNEP) họp tại Vancouver (Canada) bàn về định cư và Habitat (Habitat là nơi ở, môi trường sống trong đó cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đặc biệt là vấn đề công ăn việc làm đối với cộng đồng dân cư), đã đi đến một định nghĩa thống nhất về định cư như sau:
“Thuật ngữ định cư tiếng Anh viết: Human Setllement, là môi trường nhân tạo gồm nhà cửa, làng mạc, đô thị và các hạ tầng cơ sở của chúng cùng với những mối quan hệ tự nhiên của hệ sinh thái con người”.
Do đó tổ chức định cư chính là nghiên cứu giải quyết môi trường sống của con người, và là nền tảng quyết định sự cân bằng của hệ sinh thái xã hội. Định cư là phạm trù liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong đó quy hoạch xây dựng và kiến trúc công trình giữ một vai trò quan trọng, đặc biệt là vấn đề tài nguyên môi trường được khẳng định và trở thành điều kiện tiên quyết. Hay nói một cách khác việc sử dụng tài nguyên môi trường hợp lý có kế hoạch, quy hoạch và duy trì tính bển vững của nó có thể kiểm soát được, phải là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.