Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Phân tích chi phí – Lợi ích mở rộng công trình thủy điện Hòa Bình trước thi công

Phân tích chi phí – Lợi ích mở rộng công trình thủy điện Hòa Bình trước thi công
5 (100%)

Để tiến hành phân tích này, thì ngoài việc tính toán chi phí khảo sát, chúng ta phải ước tính dự báo mọi chi phí, lợi ích kinh tế môi trường trong tương lai. Các chi phi, lợi ích cần tính đến
bao gồm:
– Chi phí:
+ Chi phí thiết bị, máy móc.
+ Chi phí thi công, lắp đặt nhà máy.
+ Chi phí vận hành.
+ Chi phí di dân.
+ Chi phí do ngập nước lòng hồ, phá hủy hệ sinh thái và tài nguyên .
+ Chi phí suy thoái tài nguyên do di dân.
+ Chi phí do thay đổi chế độ thủy văn vùng hạ lưu.
+ Chi phí cho việc tái định cư và sử dụng tài nguyên sau tái dịnh cư.
+ Chi phí chuyển đổi công việc (nghề nghiệp) cho số công nhân sau khi xây dựng xong công trình.
+ Các chi phí khác…
– Lợi ích:
+ Lợi ích do phát điện.
+ Lợi ích do kiểm soát lũ hạ lưu.
+ Lợi ích do cung cấp nước cho nông nghiệp mùa cạn.
+ Lợi ích tạo công ăn việc làm.
+ Lợi ích về giao thông thủy trên hồ và vùng hạ lưu sông Hổng.
+ Lợi ích du lịch.
+ Các lợi ích khác…
Tính dến năm 1994, năm nhà máy thủy điện chính thức được bàn giao và hoạt động thì một loạt chi phí, lợi ích nêu trên có thể thống kê được như chi phí về thiết bị, máy móc, chi phí thi công, chi phí di dân, chi phí do ngập nước lòng hổ… Một số lợi ích cũng có thể ước tính qua những nãm vận hành thử và thực tế thi công. Sau khi nhà máy chính thức hoạt động một loạt tác động môi trường vẫn xảy ra. Trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã liệt kê một loạt tác động hiện đang xảy ra, kể cả tác động tiêu cực và tác động tích cực. Có thể kể ra một số tác động chính như ngập lòng hồ, di dân, thay đổi chế độ thủy văn. Theo báo cáo nghiên cứu những vấn đề môi trường vùng hổ chứa Hòa Bình, từ năm 1987-1989 hàng năm hồ Hòa Bình bị bùn cát bổi lấp khoảng 42,2 triệu tấn (khoảng 33 triệu m3) nhưng từ năm 1990-1993 khi hồ chính thức tích nước điều tiết, lượng bùn cát trung bình* chuyển vào hồ tăng vọt lên 73 triệu tấn/năm (khoảng 60 triệu m3) gây nên tình trạng sa bồi trong hổ khá nghiêm trọng. Sô’ liệu đo đạc trong 7 năm (1987-1993), hàng nãm toàn lòng hồ Hòa Bình bị bồi lấp một lớp phù sa dày trung bình 0,24m (Trong khoảng 1990-1993 trung bình là 0,3m). Theo quan niệm của các nhà thiết kế, phù sa sẽ lắng đọng trước tiên ở hố trũng nhất sát sau đập, sau đó bồi dần dần lên thượng lưu. Chính vì vậy họ đã để lại một dung tích chết theo tính toán ở gần đập. Nhưng thực tế không hẳn như vậy. Kết quả khảo sát lòng hồ Hòa Bình (1989-1992) cho thấy bùn cát lắng đọng cả ở phần dung tích hiệu dụng làm giảm dung tích hiệu dụng và dung tích phòng lũ của hồ. Đó là điểu xảy ra hoàn toàn khác so với thiết kế. Nếu xem sự bồi lắng của lòng hổ bắt đầu từ dung tích chết với tốc độ trên thì sau khoảng 63 năm phần dung tích chết sẽ bị bồi lấp hoàn toàn và sau khoảng 94 nãm tiếp theo phẩn dung tích hiệu dụng cũng sẽ bị bồi lấp và hồ Hòa Bình sẽ không còn tổn tại.
Do báo cáo đánh giá tác động môi trường được lập vào thời gian nhà máy đã đi vào hoạt động nên các tác động không phải hoàn toàn chỉ là dự báo mà nhiều hiện tượng đã xảy ra. Chẳng hạn, chỉ tính trong vòng 18 tháng sau khi hồ tích nước (từ tháng 1 năm 1989 đến tháng 6 năm 1990) đã có tới 70 trận động đất lớn nhỏ xảy ra ở khu vực Hòa Bình. Điển hình là 2 trận động đất mạnh 3,8 và 3,7 độ Ricter xảy ra cùng ngày 14-4-1989 và trận động đất mạnh tới 4,9 độ Ricter vào ngày 23-5-1989 trong vùng chấn tâm kéo dài suốt từ thị xã Hòa Bình đến Bình Thanh. Hiện tượng sụt lở đã xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là ở phía dưới đập. Các khe nứt đất được phát hiện ở sườn đồi ông Tượng Hòa Bình cạnh đập thủy điện, sụt lở đất đá xảy ra ở cầu Đen phía Nam thị xã Hòa Bình làm hư hại nhiều nhà dân và phải xây lại cầu. Đó là những bàng chứng về ảnh hưởng trực tiếp của hồ chứa công trình thủy điện Hòa Bình. Một loạt tác độpg khác đã xảy ra nhưng cho đến nay, việc khảo sát phạm vi và mức độ tác động hầu như chưa được thực hiện nên rất khó ước lượng lợi ích, chi phí do các tác động này gây ra.
Trong báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng đã trình bày nhiều biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực, một số biện pháp chính bao gồm:
– Hạn chế phá rừng, nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi trọc, giao đất, giao rừng tới hộ gia đình. Biện pháp này nhằm khôi phục tài nguyên rừng và hạn chế bổi lấp hồ.
– Nghiên cứu áp dụng các biện pháp bón thêm phân cho đồng ruộng vùng hạ lưu để khắc phục việc thiếu phù sa. Đào tạo nghề và tạo công ăn việc làm cho số công nhân sau thi công hiện ở thị xã Hòa Bình.
– Quản lý tốt và có hiệu quả dung tích hổ, điều tiết nước phòng lũ (mùa mưa) và tưới ruộng (mùa hạn).
– Giám sát các tác động tiêu cực trực tiếp và gián tiếp đến công trình.
– Thực thi kiểm soát môi trường khu vực ảnh hưởng nhằm tránh tác động tiêu cực, đặc biệt là sớm phát hiện khả năng rủi ro để có kế hoạch xử lí kịp thời.
– Tiến hành các dự án nghiên cứu môi trường phối hợp. Kết quả nghiên cứu không những áp dụng cho công trình thủy điện Hòa Bình mà còn áp dụng cho các công trình khác.
Từ những điểm phân tích ở trên cho phép ta định hướng tiếp cận phương pháp phân tích chi phí – lợi ích mở rộng đối với dự án công trình thủy điện Hòa Bình. Có thể chia thành hai cách tiếp cận chính sau:
1. Phân tích chi phí – lợi ích mở rộng cho dự án ở giai đoạn hoạt động.
2. Phân tích chi phí – lợi ích mở rộng cho dự án ở toàn bộ các giai đoạn từ khảo sát thiết kế, thi công dến suốt quá trình hoạt động.
Ở cách tiếp cận đầu tiên, chúng ta sẽ cố gắng lượng hóa các chi phí, lợi ích do công trình tạo ra trong giai đoạn hoạt động ổn định của dự án. Giai đoạn này có thể lấy mốc ban đầu là năm 1995, khi công trình chính thức được bàn giao. Ngoài phần phân tích chi phí, lợi ích của một loạt dự án nhỏ được chỉ ra trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, cần phải xét thêm phân tích chi phí – lợi ích mở rộng chi tiết hơn, tính đến các tác động chính của toàn bộ dự án một cách tổng hợp (Toàn bộ dự án bao gồm nhiều dự án nhỏ, vì vậy phải xem xét tổng hợp mà không xem xét riêng cho từng dự án riêng rẽ).
Ở cách tiếp cận thứ hai sẽ cố gắng lượng hóa các chi phí, lợi ích kể cả giai đoạn trước và sau khi công trình đi vào hoạt động ổn định.
Như vậy trong chi phí và lợi ích mở rộng có những chi phí hay lợi ích tính được bằng tiền, và nhiều chi phí và lợi ích khác không thể tính bằng tiền, nhưng do yêu cầu đánh giá về mặt tài chính, trong những trường hợp như vậy người ta sử dụng phương pháp “tiền quy ước”. Các chi phí, lợi ích này được tính thành tiền cho từng năm trong suốt tuổi thọ của dự án.
Phân tích chi phí – lợi ích mở rộng phải được tính toán trước khi thực hiện dự án, nó giúp cho những nhà ra quyết định cũng như chủ đầu tư có thêm cơ sở để tính toán xem có nên thực hiện dự án hay không. Đây là phương pháp có thể giúp so sánh hiệu quả kinh tế của các dự án hoặc phương án thực thi khác nhau, để có thể thay thế nhau trên cùng một địa bàn đầu tư.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội dưới 1 tỷ

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.