Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Ô nhiễm không khí trong đô thị

Ô nhiễm không khí trong đô thị
Rate this post

Không khí trong đô thị là nơi thường xảy ra sự ô nhiễm nặng nề, chứa nhiều khí độc và bụi do quá trình hoạt động của đô thị mang tính tập trung mà gây ra (từ các nhà máy, từ sinh hoạt gia đình, từ hệ thống giao thông đô thị…). Các chất độc hại va bụi này vốn không phải là thành phần tự nhiên của không khí, hoặc có thì chiếm với tỷ lệ rất thấp. Bụi và khí độc hại có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, tạo nên cho con người những bệnh tật nhất định, ở mức độ nhẹ làm suy giảm sức khoẻ, ở mức độ nặng có thể gây tử vong. Vì vậy trong kỹ thuật xử lý khí thải và bụi, người ta có nhiều cách phân loại khác nhau và thường phân loại theo đặc tính kỹ thuật hay tính vật lý hoặc hoá học mà tìm ra biện pháp xử lý kỹ thuật thích hợp. Còn trong vệ sinh học thì người ta phân loại chúng theo tác hại tới sức khoẻ để phù hợp với tiêu chuẩn vệ sinh bảo vệ sức khoẻ con người.
• Phân loại bụi theo yêu cầu vệ sinh: gồm có 4 loại chính.
+ Bụi gây bệnh phổi: Gồm bụi khoáng, bụi amiãng, bụi than, bụi kim loại, chúng gây xơ phổi, giảm chức năng hô hấp.
+ Bụi gây bệnh đường hô hấp: Gồm các bụi crôm, asen, bụi len, bột thuốc kháng sinh gây dị ứng, bụi mangan, bụi photphát, bụi bicromat kali, gỉ sắt chúng gây ra bệnh viêm mũi, họng và phế quản. Quá trình viêm mãn tính làm các cơ quan ở đường hô hấp này mất tính “lọc và giữ bụi” của chúng và để bụi lọt vào phổi gây nhiễm bệnh phổi.
+ Bụi gây bệnh ngoài da: Gồm bụi nhựa than, bụi kiểm, bụi a xít chúng gây viêm da, trứng cá, gây mụn nhọt lở loét.
+ Bụi gây bệnh ở đường tiêu hoá: Bụi đường (đường ăn), bụi giấy, bụi bông chỉ, bụi bẩn (bụi vi sinh vật hay bụi đất), làm rối loạn đường tiêu hoá. Ngoài ảnh hưởng tới con người, trong đô thị bụi còn ảnh hưởng tới cảnh quan, cây cối, các chất độc hại có thể làm cây bị úa vàng rụng lá, có khi những thảm cỏ cũng không mọc được. Nhiều trường hợp nhìn ngấm cảnh vật xung quanh mà người ta có thể thấy bức tranh ô nhiễm trong vùng.
• Phân loại chất độc hại theo yêu cầu vệ sinh.
Những chất độc hại gây ô nhiễm môi trường khí được chia làm 5 nhóm:
+ Nhóm gây bỏng: Là những chất kích thích da, niêm mạc khi ta hít thở hoặc tiếp xúc lâu với chúng, nó thường là các loại khí hơi a xít hoặc kiềm mạnh.
+ Nhóm gây kích thích đường hô hấp: Khí clo, NH3, so 3, HC1, hơi fluo, hơi brôm, ozôn, N02, NO3.
+ Nhóm gây ngạt: Là những chất nếu hô hấp nhiều con người bị ngạt thở, thiếu dưỡng khí như C02, etan, azốt… Đặc biệt co tan trong máu ngăn cản khả năng vận chuyển 02 của hồng cầu.
+ Nhóm gây mê, gây tê: làm tê liệt hệ thần kinh trung ương như hơi cồn, H2S,
cs2, xăng…
+ Nhóm gây độc: là chất gây tổn thương cơ thể như các loại hyđrocacbua, halogen, cloruamêtin, bromuametin v.v…
Trong các khí độc hại do hoạt động công nghiệp thường là: Sulfuroxit (S02), cácbonmonoxit (CO), clo và HC1, Pb (chì) và các hợp chất của chì, thuỷ ngân (Hg), hyđrocacbon (CxHy), nitơoxit (NO), hydrosulfur (H2S)…
Bụi và các chất khí độc trong môi trường không khí có hại cho sức khoẻ. Vì vậy các loại bụi và khí độc không được phép tồn tại trong môi trường không khí với nồng độ lớn. Để đảm bảo vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ con người, tiêu chuẩn vệ sinh quy định nồng độ cho phép các loại bụi và nồng độ chất độc hại trong không khí. Đại lượng biểu thị lượng chất độc hại hoà lẫn trong không khí gọi là nồng độ, ký hiệu là c. Đơn vị đo nồng độ là mg/lít hay gam/m3 Nhiều trường hợp nồng độ còn được biểu thị bằng ti lệ phần trăm
theo thể tích (m%), hoặc tỉ lệ phần trăm theo trọng lượng (k%). Mối liên hệ giữa c với m và k như sau:

Nồng độ chất độc hại trong không khí không phải là hằng số, mà là đại lượng thay đổi theo thời gian và không gian. Vì vậy có nhiều khái niệm và ý nghĩa của nồng độ độc hại:
+ Nồng độ tức thời.
+ Nồng độ trung bình ngày, trung bình tháng, trung bình năm cho 1 điểm trong không gian.
+ Nồng độ trung bình cho 1 vùng, 1 mặt phẳng nào đó do nhiều điểm đo được xác lập mà tạo nên.
Trong quá trình quan trắc đo đạc nồng độ bụi hoặc chất độc hại, trị số nồng độ lớn nhất thu được gọi là nồng độ cực đại tức thời. Dựa vào mức độ tác hại của bụi và chất độc hại đối với con người, người ta chia ra các giới hạn tiêu chuẩn: nồng độ giới hạn cho phép, hay nồng độ cho phép. Nồng độ giới hạn nguy hiểm, hay nồng độ nguy hiểm. Nồng độ gây tử vong, hay nồng độ tử vong.
Trong tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí, thường dùng nồng độ cho phép là nồng độ tức thời cực đại, nó là nồng độ lớn nhất của chất độc hại được phép tồn tại trong không khí, khi mà nồng độ độc hại tức thời nhỏ hơn hoặc bằng nồng độ cho phép thì không gây tác hại đối với con người, tức là con người sống và làm việc trong môi trường đó lâu dài không bị ảnh hưởng về sức khỏe.
Ở nước ta tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí được quy định trong tập “Một số tiêu chuẩn tạm thời về môi trường” – NXB Khoa học – Kỹ thuật, 1993. Trong đó quy định: nồng độ giới hạn cho phép các chất độc hại trong không khí ở cơ sở sản xuất. Nồng độ giới hạn cho phép các chất độc hại trong không khí ở khu vực dân cư. Giới hạn tối đa cho phép nồng độ bụi trong không khí ở cơ sở sản xuất.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.