Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Những tai biến môi trường có thể xẩy ra trong công tác quỵ hoạch vùng

Những tai biến môi trường có thể xẩy ra trong công tác quỵ hoạch vùng
Rate this post

Người làm công tác Quy hoạch vùng đồng thời phải nắm bắt được xu thế diễn biến của môi trường và khả năng có thể xẩy ra tai biến, có như vậy mới đảm bảo rằng mục tiêu bển vững mới được xem xét đầy đủ.
Những hiểm hoạ do tai biến môi trường mang lại có thể làm mục tiêu kinh tế xã hội bị thất bại và phá huỷ hệ thống môi trường vùng. Vì vậy trong QHV, biện pháp phòng ngừa ngăn chặn cũng như phương án dự phòng khắc phục những tai biến môi trường luôn phải được đặt ra và giữ một vai trò quan trọng.
Tai biến môi trường phản ánh tính nhiễu loạn và bất ổn định của các hệ thống tự nhiên. Tai biến môi trường có thể phá vỡ các chức nãng của hệ thống tự nhiên cũng như các dịch vụ mà hệ thống đó đem lại.
Tai biến môi trường có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân’ sinh, và trong một số trường hợp do cả hai nguyên nhân này. Sự gia tăng các tai biến do nhân sinh đã làm thay đổi đáng kể thái độ và phản ứng của cộng đồng đối với các tai biến.
Tai biến môi trường có thể là cấp diễn (xảy ra nhanh, mạnh và đột ngột) ví dụ như động đất, cháy rừng, lũ lụt; có thể là trường diễn (xảy ra chậm chạp, trường kỳ, từ từ) ví dụ: nhiễm mặn, sa mạc hoá.
Tai biến môi trường xuất hiện do có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân sinh. Vì vậy người ta chia tai biến môi trường thành Thiên tai và Hiểm hoạ nhãn sinh.
a) Thiên tai
Là các tai biến môi trường có nguồn gốc tự nhiên, thường được coi là bất khả kháng, con người chỉ còn cách sống hoà hợp với chúng. Do đó việc lựa chọn phương án phòng chống thiên tai chủ yếu tập trung vào việc lựa chọn cách sống, sinh hoạt, né tránh những sự cố không mong đợi, sao cho thiệt hại là ít nhất. Thiên tai gồm:
– Tai biến khí hậu thuỷ vãn
Tai biến khí hậu thuỷ vãn là các tai biến gây ra bởi lũ lụt, hạn hán, gió xoáy xảy ra ở hầu hết các vùng. Trong quá trình quy hoạch vùng, cần phân biệt rõ cường độ và thời gian xảy ra lũ lụt, ví dụ như cường độ cao, thấp hay trung bình, thời gian ngập lụt dài hay ngắn, để quy hoạch phát triển vùng có thể tìm ra các giải pháp phù hợp. Cần xây dựng khả năng điều chỉnh linh hoạt cấu trúc phát triển của vùng để thích ứng với các sự cố như lũ lụt có thê xảy ra ở các vùng thượng lưu và ở hầu hết các hệ thống sông. Xây dựng đập ngăn và các dự án thuỷ điện có thể điều tiết khống chế dòng chảy lũ nhưng có rất nhiều ảnh hưởng môi trường khác. Quy hoạch vùng cần nghiên cứu nguyên nhàn cũng như tác động và lên kế hoạch ứng phó cho vùng. Ví dụ, các lưu vực thượng lưu cần được bảo vệ và trồng rừng để ngãn lũ cho vùng hạ lưu và lũ quét khu vực.
– Hạn hán
Hạn hán là hiện tượng không có mưa trong một thời gian dài, vì thế nó gây nên thiếu hụt về nước mặt cũng như nước ngầm. Hiện tượng này cũng là yếu tố khí hậu đặc trưng của các vùng vốn khô hạn tự nhiên. Tuy nhiên, các đợt hạn hán bất thường, tạm thời và ngắn hạn có thể xảy ra ở các vùng khác khi việc quản lý nguồn nước và hệ thòng thuy lợi không được quan tâm đầy đủ và đặc biệt là khi hoạt động của con người gây tác động đáng kế tới các hệ thống tự nhiên, làm phá vỡ khá nãng điều tiết nước tự nhiên trong vùng. Vì vậy, quy hoạch cần xem xét sự xuất hiện của hạn hán ớ các vùng khác nhau mà tìm ra nguyên nhân để có biện pháp hạn chế, lâu dài có thế khắc phục thông qua những định hướng phát triển của vùng. Mặt khác để thích ứng với điều kiện khô hạn cần xây dựng chương trình các loại cây trồng và mùa màng đòi hỏi ít nước trong mùa hạn cũng như sử dụng các loại công nghệ dùng ít nước trong phát triển công nghiệp.
Các vùng thường chịu ảnh hướng cúa lũ lụt và hạn hán phải thực hiện các nỗ lực tương tự nhau trong quy hoạch vùng cho phát triển công nghiệp và du lịch. Các sự cô do bão cũng phải được xem xét trong quy hoạch vùng. Thõng tin và các số liệu rất cần thiết cho việc xác định khu vực chịu tác động của bão nên cần được quan tâm đến và sẽ ánh hướng tới định hướng phát triển vùng.
– Tai biến địa động lực
Tai biến địa động lực là những tai biến gây ra do biến động địa chất mà có, như động đất, lún sụt đất, nứt đất, trượt lở… thường khó dự đoán và tấn suất không cao nhưng khi đã xảy ra thì tác động lên cả một khu vực rộng lớn và gây những tác hại khó lường cho cả vùng. Một điều đáng chú ý là loại tai biến này xẩy ra có nguồn gốc tự nhiên nhưng tiếp tay cho nó làm tăng thêm nguy cơ lại là nguyên nhân nhân sinh. Thí dụ việc xây dựng các đập chặn dòng để hình thành các hồ lớn phục vụ lợi ích thuỷ điện hay thuỷ lợi đã làm gia tăng xác suất cũng như cường độ xảy ra động đất kích thích. Đánh giá và phân vùng động đất rất quan trọng cho định hướng quy hoạch vùng nhằm hạn chế các tai biến có thể xảy ra. Hoặc điều tiết quá mức các dòng chảy dẫn đến làm thay đổi tính cơ lý của vùng đất ven bờ là nguyên nhân làm tăng khả năng sụt lở đất ven sông. Hoặc việc khai thác cát bừa bãi trên các lòng sông đã tác động không nhỏ vào dòng chảy làm gia tăng sụt lở của các vùng đất bãi vốn do bồi lấp mà có…
b) Hiểm hoạ nhân sinh
Hiểm hoạ nhân sinh cũng là những tai biến môi trường nhưng do con người gây ra. Hay nói cách khác trong quá trình hoạt động con người đã làm biến đổi môi trường theo hướng bất lợi gây nên những hiểm hoạ cho chính mình. Hiểm hoạ gồm có các dạng sau:
– Tai biến sinh thái
Tai biến sinh thái thường do các nguyên nhân nhân sinh là chủ yếu-vì hoạt động của con người dễ làm thay đổi giá thể của các HST như sự cố tràn dầu, rò rỉ hoá chất, cháy rừng, phá nổ… nhưng quan trọng hơn cả là thay đổi cơ cấu sử dụng đất trên một diện rộng mà đính cao của nó là đô thị hoá, đặc biệt là đô thị hoá ở những vùng đất có HST nhậy cảm hoặc tình trạng địa chất thuỷ văn kém bền vững (mỏng manh). Vì vậy quá trình hình thành và tính ổn định sinh thái của vùng cần được đánh giá và ngưỡng của các hệ sinh thái cần phải được xem xét kỹ lưỡng trong các quy hoạch vùng, từ quy hoạch phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản đến các khu vực phát triển kinh tế khác có liên quan tới tài nguyên sinh vật.
– Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là quá trình tích luỹ chất thải (vật lý, hoá học, sinh học) ở mức vượt quá khả năng đồng hoá của môi trường (hay vượt quá năng lực tải của môi trường). Vượt quá ngưỡng tải sẽ gây độc hại cho môi trường sống của con người và các động thực vật. Các tác nhân sau đây gây nên ô nhiễm môi trường:
+ Yếu tố vật lý: Tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, nhiệt, điện từ trường, phóng xạ, bụi.
+ Yêu tố hoá học: dưới dạng hơi, khí, chất lỏng, chất rắn như: Các chất khí: co 2, S02, NH3, CH4, hoá chất nông nghiệp bay hơi, CFCs, cacbuahydro đa vòng, Cl, F. Các chất lỏng: Từng loại có các tính chất hoá sinh riêng (pH, COD, BOD, kim loại nặng, NO;, NOJ, SO7, Chất hữu cơ, vi sinh vật, hoá chất độc thể lỏng. Các chất rắn: Kim loại nặng, chất phóng xạ, các chất độc hại thể rắn.
+ Yếu tố sinh học: Vi trùng, ký sinh trùng, vi rút gây bệnh.
Các yếu tố trên có thể gây ô nhiễm không khí, nước và đất. Các thông số môi trường nền được đánh giá, đo đạc ở một số khu vực hoang sơ tự nhiên do Chính phủ lựa chọn để cung cấp thước đo chất lượng môi trường cơ bản. Các tiêu chuẩn thấp nhất của chất lượng môi trường được quy định trong bộ “Tiêu chuẩn Môi trường Việt Nam” để đảm bảo độ an toàn cho cuộc sống con người và các quá trình sản xuất. Sự tích luỹ các chất gây nhiễm vượt quá nồng độ tiêu chuẩn quy định sẽ làm môi trường bị ô nhiễm.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.