Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Những căn cứ và nguyên tắc đề xuất xây dựng “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam ”

Những căn cứ và nguyên tắc đề xuất xây dựng “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam ”
Rate this post

Muốn xây dựng được một định hướng chiến lược phát triển bền vững đất nước thích hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch sử, có những nội dung xác đáng và thiết thực cần phải căn cứ vào điều kiện thực tại của quốc gia cũng như những mục tiêu PTBV cần phải đáp ứng, mà lựa chọn một chiến lược phát triển phù hợp, nhằm đem lại lợi ích tổng hợp trên ba mặt kinh tế – xã hội – môi trường. Mật khác việc xây dựng một định hướng chiến lược phát triển bền vững đất nước có thực sự xuất phát từ những thách thức mà sự nghiệp phát triển ngày hôm nay đang phải đối mặt, thì mới hy vọng sự phát triển trong tương lai sẽ được bển vững hơn.
1. Những thách thức chủ yếu hiện nay
Trên cơ sở đánh giá và phân tích thực trạng PTBV ở Việt Nam những năm qua cho thấy, bên cạnh những kết quả to lớn đã đạt được trong phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường, thì trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, ngành và địa phương, tính bền vững của sự phát triển vẫn chưa được quan tâm đúng mức và vẫn còn một số tồn lại chủ vếu sau đây:
a) Về nhận thức
Quan điểm phát triển bền vững chưa được thể hiện một cách rõ rệt và nhất quán qua hệ thống chính sách và các công cụ điều tiết của Nhà nước. Các chính sách kinh tế – xã hội còn thiên về tăng trưởng nhanh kinh tế và ổn định xã hội, mà chưa quan tâm đầy đủ, đúng mức đến tính bền vững khi khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Mặt khác, các chính sách bảo vệ môi trường lại chú trọng việc giải quyết các sự cố môi trường, phục hồi suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường, mà chưa định hướng phát triển lâu dài nhằm đáp ứng những nhu cầu tương lai của xã hội. Quá trình lập Quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quá trình xây dựng chính sách bảo vệ môi trường còn chưa được kết hợp chặt chẽ, lồng ghép hợp lý với nhau. Cơ chế quản lý và giám sát sự phát triển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng và có hiệu lực.
b) Về kinh tế
Nguồn lực phát triển còn thấp nên những yêu cầu về phát triển bền vững ít có đủ điều kiện vật chất đế thực hiện. Đầu tư được tập trung chủ yếu cho những công trình mang lại lợi ích trực tiếp, còn rất ít đầu tư cho tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Số nợ hiện nay của Việt Nam so với các nước khác chưa thuộc loại cao và chưa tới giới hạn nguy hiểm, song nó đang tăng lên nhanh chóng và sẽ có nguy cơ đe doạ tính bền vững của sự phát triển trong tương lai, nhất là khi vốn vay chưa được sử dụng có hiệu quả.
Mức độ chế biến, chế tác nguyên vật liệu trong nền kinh tế Việt Nam còn rất thấp và mức độ chi phí nguyên, nhiên, vật liệu cho một đơn vị giá trị sản phẩm còn cao; sản phẩm tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu phần lớn là sản phẩm thô; sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu là theo chiều rộng… trong khi đó những nguồn tài nguyên thiên nhiên chỉ có hạn và đã bị khai thác đến mức tới hạn.
Xu hướng giảm giá các sản phẩm thô trên thị trường thế giới gây ra nhiều khó khăn cho tăng trưởng nông nghiệp ở Việt Nam. Với cơ cấu sản xuất như hiện nay, để đạt được một giá trị thu nhập như cũ từ thị trường thế giới, Việt Nam đã phải bán đi một số lượng hàng hoá hiện vật nhiều hơn trước.
Các mục tiêu phát triển của các ngành có sử dụng tài nguyên thiên nhiên còn mâu thuẫn nhau và chưa được kết hợp một cách thỏa đáng. Các cấp chính quyền ở cả trung ương và địa phương chưa quản lý có hiệu quả việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
c) Vê xã hội
Sức ép về dân sô’ tiếp tục gia tăng, tình trạng thiếu việc làm ngày một bức xúc hơn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao vẫn là những trở ngại lớn đối với sự phát triển bền vững. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Số lượng và chất lượng lao động kỹ thuật (về cơ cấu ngành nghề, kỹ năng, trình độ…) chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
Khoảng cách giàu nghèo và phân tầng xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường. Mô hình tiêu dùng của dân cư đang diễn biến theo truyền thống của các quốc gia phát triển, tiêu tốn nhiều nguyên vật liệu, năng lượng và thải ra nhiều chất thải và độc hại. Mô hình tiêu dùng này đã, đang và sẽ tiếp tục làm cho môi trường tự nhiên bị quá tải bởi lượng chất thải và sự khai thác quá mức.
Một số tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm, căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, tham nhũng còn chưa được ngăn chặn có hiệu quả, gây thất thoát và tốn kém các nguồn của cải, tạo ra nguy cơ mất ổn định xã hội và phá hoại sự cân đối sinh thái.
d) Về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
Do chú trọng vào phát triển kinh tế, nhất là tăng trưởng GDP, ít chú ý tới hệ thống thiên nhiên, nên hiện tượng khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí tài nguyên gây suy thoái môi trường và làm mất cân đối các hệ sinh thái đang diễn ra phổ biến.
Một số cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bệnh viện… gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Quá trình đô thị hoá tãng lèn nhanh chóng kéo theo sự khai thác quá mức nguồn nước ngầm, ứ đọng chất thải rắn, lỏng và bụi gây ô nhiễm nguồn nước mặt, đất đai và không khí. Đặc biệt, các khu giầu đa dạng sinh học như rừng, biển, ven biển, hải đảo chưa được chú ý bảo vệ vì đang bị khai thác quá mức.
Tuy các hoạt động bảo vệ môi trường đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng mức độ ô nhiễm, sự suy thoái và suy giảm chất lượng môi trường vẫn tiếp tục gia tăng. Điều đó chứng tỏ rằng năng lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy làm công tác quản lý và bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu của PTBV.
Công tác bảo vệ môi trường có tính liên ngành, liên vùng, liên quốc gia và toàn cầu, vì vậy nó cần phải được tiến hành từ cấp cơ sở phường xã, quận huyện. Chúng ta còn thiếu phương thức quản lý tổng hợp môi trường từ cấp vùng, liên vùng và liên ngành, trong khi đó lại có sự chồng chéo chức năng và nhiệm vụ giữa các cấp, các ngành trong công tác bảo vệ môi trường. Quản lý nhà nước về môi trường mới được thực hiện ớ cấp trung ương, ngành và tỉnh; chưa hoặc có rất ít ở cấp quận – huyện và chưa có ở cấp phường – xã. Một số quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng đã được xây dựng và lồng ghép môi trường, song chưa có cơ chế bắt buộc các địa phương và các ngành tham gia khi xây dựng và thực hiện quy hoạch này

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.