Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Nguồn gốc gây ô nhiễm khí trong đô thị

Nguồn gốc gây ô nhiễm khí trong đô thị
Rate this post

• Nguồn gốc gây ô nhiễm khí trong đô thị, là do 3 nguyên nhân cơ bản sau:
+ Do các cơ sở sản xuất công nghiệp
Các nhà máy công nghiệp thải ra bụi và khí độc, khắc phục sự ô nhiễm này, vấn đề hiệu quả hàng đầu là dùng giải pháp khoa học công nghệ nghĩa là dùng hệ thống công nghệ mới với hệ thống dây chuyền kín. Trong đô thị chỉ nên để những dạng nhà máy thuộc công nghệ sạch (hay là công nghệ cao Hi-Tech). Hệ thống nhà máy có nguy cơ gây ô nhiễm nặng phải đưa ra xa khu vực thành phố, tìm nơi có địa hình thích hợp, lợi dụng điều kiện khí hậu để bô trí, thu hẹp vùng tác hại mà chúng có thể gây ra. Khi thiết kế xây dựng những nhà máy phải tuyệt đối tôn trọng những tiêu chuẩn, quy phạm về môi trường, để giảm mức tối thiểu tác hại của chúng. Đặc biệt không đươc sử dụng những loại công nghệ cũ (là những công nghệ lạc hậu), và những công /lghê thiếu những biện pháp đảm bảo an toàn cho môi trường trong quá trình sản xuất, ngày nay đã cấm sử dụng.
+ Do hệ thống giao thông vận tải
Các phương tiện giao thông (xe cộ các loại) là nguồn gây ra ô nhiễm không khí trong đô thị: Chúng thải ra 2/3 lượng khí Cacbon mônoxit (CO) và 1/3 lượng khí Hydro cacbua và Nitơ ôxít có trong đô thị. Do sự vận động của các dòng xe làm bụi và độc hại trong đô thị khuếch tán mạnh.
Để hạn chế sự ô nhiễm này trước tiên phải kiểm tra chất lượng các phương tiện giao thông, bảo đảm các thông số kỹ thuật tiêu chuẩn mới được lưu hành. Các phương tiện giao thông nặng phải bố trí ra vùng ngoại vi thành phố vừa giảm ô nhiễm vừa chống ồn gây ra cho đô thị. Mặt khác đường phố phải thông thoáng sạch sẽ. Kiến trúc cảnh quan đường phố kết hợp những mảng cây xanh phòng hộ để có đủ khả năng đảm bảo an ninh môi trường. Giải quyết tốt các nút giao thông để dòng xe thông thoáng không ùn tắc gây ô nhiễm cục bộ quá mức trong những giờ cao điểm. Không bố trí công trình mặt phố dày đặc như các thành phố cổ đã lỗi thời, gây cản gió làm bụi và khí độc khó phân tán, tạo nên ứ đọng lâu dài gây nguy hiểm.
+ Do chính sinh hoạt của con người
Trong sinh hoạt hàng ngày, đun nấu bếp núc sử dụng than củi gây khí độc và khói bụi. Tuy lượng độc hại này không lớn nhưng nó gây ô nhiễm cục bộ ngay trong không gian mà con người trú ngụ, đặc biệt là khí co.
Để hạn chế nguồn ô nhiễm này, việc giải quyết nhiên liệu phục vụ trong đô thị có ý nghĩa số một. Hạn chế đun củi, than, dầu, tăng cường hệ thống khí đốt hoặc dùng điện. Những vấn đề không kém phần quan trọng là trong thiết kế nhà ở, việc thiết kế khu phụ, bếp núc người KTS phải nắm được yêu cầu vệ sinh và các giải pháp kiến trúc phù hợp để thoát nhanh, thoát triệt để khói và khí từ các không gian bếp ra ngoài. Vị trí khu phụ trong căn hộ phải bố trí sao cho không lây lan ô nhiễm ra các không gian khác cũng như không gian ở của người bên cạnh.
c) Ô nhiễm tiếng ồn và chấn động trong đô thị
– Tiếng ồn trong đô thị
vể mặt vệ sinh học, tiếng ồn cũng là một yếu tố độc hại đối với con người. Sống và làm việc lâu dài trong điều kiện mức ồn lớn con người xuất hiện những bệnh lý về hệ thần kinh, cơ quan thích giác. Kéo dài tác động này chúng gây ra những ảnh hưởng khác như tiêu hoá (đau dạ dày), tim mạch và nặng là các biểu hiện tâm thần. Không những thế mà tiếng ồn còn có tác hại làm giảm khả năng làm việc của những người bình thường: động tác chậm chạp, thiếu chính xác, khả nãng tập trung vào công việc giảm sút, hay nhầm lẫn. Người làm việc trí óc hay quên và chóng mệt mỏi, dẫn đến năng suất lao động thấp.
Trong đô thị có ba nguyên nhân gây ồn: do giao thông vận tải; do hoạt động công nghiệp; do những hoạt động tập trung đông người.
Để giảm tiếng ồn đô thị, giải pháp có ý nghĩa và hiệu quả nhất là Quy hoạch hợp lý việc phân khu chức năng trong đô thị ở mọi quy mô không gian: một khu phố, một quận hay toàn đô thị. Thông thường trong đô thị người ta phân ra các khu như sau:
+ Vùng công nghiệp: Mức ồn lớn, theo quy đinh là không quá 80 dbA đối với các nước phát triển, dưới 90 dbA với các nước đang phát triển. Ở vùng này chủ yếu là bố trí các xí nghiệp công nghiệp, các tuyến giao thông nặng và có mật độ cao, kết hợp các tuyến đường sắt chạy qua, cho phép xây dựng một sô’ công trình phục vụ tại chỗ cho khu vực, tuyệt đối không bố trí nhà ở, trường học hay công trình dân dụng khác.
+ Vùng trung tâm: Mức ồn quy định không quá 70 dbA. Nó gồm các công trình công cộng, cửa hàng thương mại, công trình phục vụ vãn hoá (chiếu phim, nhà hát, triển lãm nhỏ, bảo tàng). Các tuyến giao thông trung bình và nhẹ, cấm xe tải, xe buýt.
+ Vùng ở: Mức ồn quy định không quá 60 dbA, gồm khu ở với các không gian đi dạo và nghỉ ngơi thư giãn. Có các tuyến giao thông nhẹ (xe tắc xi, ôtô con hoặc vận tải nhẹ từ 2,5 tấn trở xuống). Khuyến khích chủ yếu đi lại bằng xe đạp.
+ Vùng yên tĩnh: Mức ồn quy định không quá 50 dbA. Khu này giành cho bố trí bệnh viện, nhà trẻ, thư viện, viện nghiên cứu. Có thể bố trí trường học (tiểu và trung học).
Giữa các vùng này người ta thường dùng giải pháp cách ly bằng không gian cây xanh và cảnh quan để chuyển tiếp, gọi là không gian chuyên tiếp. Không gian chuyển tiếp trong đô thị có nhiều quy mô khác nhau. Giữa các vùng trong đô thị thường là không gian chuyển tiếp có quy mô lớn, còn trong nội bộ một vùng người ta cần phân ra những vùng nhỏ thì không gian chuyển tiếp có quy mô nhỏ hơn. Nhiều trường hợp giải quyết không gian chuyển tiếp này người ta kết hợp vườn hoa, công viên, thảm cây, thảm cỏ hoặc hồ nước ….có bô trí các khu vui chơi, giải trí, thể dục dưỡng sinh. Trong những trường hợp quan trọng người ta dùng rừng phòng hộ cho môi trường đô thị. Ở nước ta các đô thị đều không có rừng phòng hộ cho vệ sinh môi trường, ngay cả một số đô thị miền núi và trung du.
Tiêu chuẩn mức ồn cho phép trong đô thị của nước ta chưa có tiêu chuẩn pháp quy, nhưng trong một sấ trường hợp ta có thể sử dụng tiêu chuẩn ngành: thí dụ tiêu chuẩn tiếng ồn sản xuất của Viện nghiên cứu kỹ thuật bảo hộ lao động thuộc Liên đoàn lao động Việt Nam, hoặc tiêu chuẩn mức ồn khu ở của Viện Nghiên cứu thiết kế nhà ở của Bộ Xây dựng (nay là Công ty Tư vấn kiến trúc và Xây dựng Việt Nam).
– Chấn động trong đô thị
Chấn động trong đô thị làm ảnh hướng tới công trình và gây cảm giác khó chịu cho con người. Nguyên nhân của chấn động trong đô thị chủ yếu là do giao thông, đặc biệt là phương tiện vận tải nặng chuyển động với tốc độ cao tạo ra. Lý do chấn động là do tính đàn hồi của đất, những nền đất có lóp mặt mỏng (vài ba mét) dưới đó là các lóp đất yếu (đất bùn), những đô thị thuộc đất bổi đắp đồng bằng thì thường có chấn động mạnh. Sóng chấn động có đặc điểm là bước sóng ngắn (1 – 50pm), tần số dao động cơ học cao. Vùng ảnh hưởng của chấn động tuỳ thuộc vào cấu tạo địa chất và đặc trưng cơ đất quyết định, hẹp là 50 – 60m lớn thì có khi tới 300m. Nhà thấp thì bị rung lắc mạnh khi nằm trong vùng ảnh hưởng, ngược lại nhà cao, nặng có cấu trúc móng sâu thì rung động ít.
Con người cảm nhận được chấn động khi tốc độ lan truyền của nó vào khoảng 0,04m/s và không chịu đựng được khi lên tới lOm/s. Muốn triệt tiêu chấn động ngoài phương pháp quy hoạch, bố trí công trình nằm ngoài vùng ảnh hưởng của tuyến giao thông, nó còn phụ thuộc vào kỹ thuật cấu tạo nền đường, mặt đường cũng như kỹ thuật xây dựng.
– Tương tác thành phố và nông thôn:

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.