Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Một sô vấn đề trong QHMT có liên quan mật thiết đến QHXD (P3)

Một sô vấn đề trong QHMT có liên quan mật thiết đến QHXD (P3)
Rate this post

4. Đánh giá tính thích hợp của đất
Mục đích của Quy hoạch là phải tìm ra nhũng nơi, mà tại đó có điều kiện tối ưu phù hợp với các mục đích phát triển khác nhau. Hay nói một cách ngắn gọn, là tìm khu vực, địa điểm thích hợp nhất cho tùng loại phát triển trong tương lai.
Thực tế tồn tại những khu vực đất đai có khả năng thích hợp đồng thời với nhiều loại hình phát triển khác nhau, tự nó đã làm xuất hiện mâu thuẫn mà buộc các nhà quy hoạch phải quyết định. Trong những trường hợp như vậy, người ta phải căn cứ vào “tính thích hợp của đất” ở quy mô lớn hơn (trên cấp không gian) để phối hợp chọn lựa và quyết định, với đảm bảo rằng tính hợp lý thỏa mãn cho toàn hệ thống lãnh thổ, đem lại lợi ích tối đa cho quốc gia trong tương lai, đồng thời tránh được mâu thuẫn xảy ra giữa các khu vực hay các hệ thống con của môi trường. Hiện nay xu hướng: (1) tổ chức lại các khu vực có nhiều tiềm năng phát triển và (2) thực hiện các quyết định loại trừ trong ưu tiên đối với các phương thức sử dụng khác nhau, là thực hiện quan điểm nói trên.
Về mặt kỹ năng, quy trình đánh giá “tính thích hợp phát triển” được sử dụng hiện nay là tương đối mới, bởi vì nó được bổ sung thêm mục tiêu mang tính hệ thống như sinh thái, môi trường, và nhiều mục tiêu khác hướng tới phát triển bền vững. Mỗi một loại hình phát triển phải xây dựng tiêu chuẩn cho riêng mình để làm cơ sở lựa chọn. Kỹ thuật chập bản đồ kết hợp hệ thống thông tin địa lý là những công cụ hiệu quả cho yêu cầu này của quy hoạch.
Về nội dung đánh giá “tính thích hợp phát triển” trong quy hoạch thường được xây dựng sao cho đáp ứng với yêu cầu đặt ra, như đánh giá tổng họp một khu vực, đánh giá tính thích hợp phát triển đối với một vài sử dụng riêng lẻ, hay xây dựng một mô hình đánh giá chung… đều dựa trên các thông số môi trường cơ bản (như địa chất, thủy văn, thổ nhưỡng, khí hậu và vi khí hậu…) thu thập được qua hệ thống thông tin dữ liệu. Phương pháp phân tích tính thích hợp bằng “thị giác” mà các nhà QHXD thường sử dụng trong quá trình “đi thực địa” (nhìn, chọn và chụp ảnh), đến nay nội dung đã thay đổi hẳn. Việc xây dựng bản đồ cảnh quan khu vực theo “thuộc tính thị giác” dựa trên các số liệu về địa hình và thảm thực vật, thông qua những phần mềm máy tính đã là điều phổ biến ở các quốc gia tiên tiến.
5. Đánh giá khả năng chịu tải môi trường của khu vực quy hoạch
Đất, nước, không khí luôn có khả năng đồng hóa, hay làm trung hòa các chất thải nhờ những phản ứng lý, hóa và sinh học. Khả năng này gọi là khả năng tự làm sạch của môi trường. Nhưng khả năng tự làm sạch là có giới hạn, mỗi một khu vực khác nhau có khả năng tự làm sạch và giới hạn làm sạch khác nhau, tùy thuộc vào đặc tính sinh thái mà hệ thống đó chứa đựng. Điều này cũng có nghĩa là một khu vực môi trường chỉ có thể thỏa mãn một lượng tối đa các hoạt động phát triển nào đó, tương ứng với trình độ công nghệ được sử dụng. Hay nói cách khác, khả năng chịu tải thừa nhận là có những giới hạn nhất định của các hoạt động phát triển và giúp cho việc xác định được mức độ phát triển có thể, mà vẫn đảm bảo chất lượng môi trường.
Trong quy hoạch môi trường nói chung hay quy hoạch xây dựng nói riêng, việc đánh giá khả năng chịu tải của đất có một ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn đầu tư, cũng như xác định mục tiêu môi trường trong khu vực.
Kỹ thuật phân tích khả năng chịu tải của đất, khác với phân tích tính thích hợp của đất là ở chỗ phải tính đến các thông số môi trường cụ thể, phải tính xem việc tăng cường
sử dụng đất sẽ đem đến những ảnh hưởng chất lượng môi trường nào? yếu tố nào có thê hoàn nguyên và yếu tố nào không thể hoàn nguyên theo từng giai đoạn đổi mới công nghệ sản xuất.
Nội dung phân tích khả năng chịu tải môi trường của đất dựa trên hai nhóm thành tố cơ bản, đó là:
Biến số đo mức độ tăng trưởng. Biến số đo mức độ tăng trưởng thể hiện số người hay thước đo các hoạt động con người. Thí dụ, quy hoạch một khu du lịch sinh thái phái nắm được số người đến đây tăng lên hàng năm, và số công trình xây dựng tăng tương ứng với nó.
Yếu tố hạn chế. Ngược với biến số đo mức độ tăng trưởng, các yếu tố hạn chế chỉ cho ta sự điều hòa phát triển trong khu vực. Nó bao gồm các tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng cơ sở và tất cả các yếu tố khác có thể hạn chế sự tăng trưởng vì chúng không thể có được một cách vô hạn. Để tiện quản lý người ta chia những yếu tố hạn chế thành 3 phân nhóm sau: (a) Môi trường các đặc trưng sinh lý gồm các số đo về chất lượng không khí, nước tự nhiên, độ ổn định của hệ sinh thái và xói mòn đất… (b) Công suất các hệ thống hạ tầng như giao thông, cấp nước, xử lý nước thải và chất thải rắn… (c) Tác động tâm lý con người thông qua các thông số về cảm nhận không gian, cảnh quan… đem lại những xúc cảm hạnh phúc, an toàn… hay những bất ổn, những stress.
Cuối cùng, quá trình phân tích phải đi đến tính được các giá trị tối đa (hoặc tối thiểu) của các yếu tố hạn chế tương đương với mức tăng trưởng, để từ đó hoạch định phát triển ơ cả hai mặt không gian và thể chế. Để công tác này ngày một hiệu quả người ta chuyển dần từ phương pháp chuyên gia đơn thuần sang phương pháp mô hình nhờ tiến bộ của công nghệ thông tin.
6. Đánh giá các khu vực nhạy cảm môi trường
“Khu vực nhạy cảm môi trường là khu vực đất đai nào đó, thuộc phạm vi địa phương hay quốc tế, nếu chứa đựng ỷ nghĩa đặc biệt, hoặc do hoạt động không được kiểm soát của con người có nguy cơ làm suy giảm dẩn đến phá hoại các giá trị của chúng, hoặc có tác động nguy hiểm đối với cuộc sống hay tài sản của con người ”118].
Dựa trên khái niệm này, các khu vực nhạy cảm môi trường thường là:
Các vùng đất dễ bị tổn thương. Đó là đường bờ ven biển và hải đảo, hồ và các dòng chảy, các vùng đất ngập nước, các cấu trúc địa chất hiếm, các khu vực nhạy cảm sinh thái (ESA) như một vài loại sinh cảnh nào đó là nơi sinh sản hoặc là các điểm di trú, hoặc các khu vực có loài động thực vật quý hiếm.
Đây là những vùng đất đòi hỏi phải được bảo vệ trước các hoạt động của con người.
Đất nguy hiểm. Đó là các đồng bằng ngập lụt (như đồng bằng Nam Bộ), các vùng dốc và không ổn định (như ruộng bậc thang), các khu vực dễ bị trượt lở, những vùng có núi lửa hay động đất thường xuyên xảy ra.
Con người trong vùng đất này phải được bảo vệ trước các hiểm họa tự nhiên. Các phương pháp phòng tránh hay thích ứng phải được áp dụng.
Các khu vực tài nguyên tái tạo bao gồm các vùng có khả năng bổ cập nước ngầm, các vùng đất nông nghiệp cho các sản phẩm đặc biệt (vùng đặc sản thường bị chi phối bởi các yếu tố vi khí hậu và các yếu tố vi lượng trong đất dễ bị mất), các vùng đất lâm nghiệp và các khu vực trù phú cho cá và động vật hoang dã.
Các khu vực này cần được bảo vệ để đảm bảo an toàn cho sử dụng lâu dài.
Tài nguyên cảnh quan, văn hóa. Đó là những vùng danh thắng, hoặc có giá trị vãn hóa, khoa học và giáo dục cao. Một số vùng có tiềm năng giải trí du lịch hay những vùng miền có giá trị lịch sử, khảo cổ hay công trình kiến trúc.
Để có thể tìm ra những giải pháp tốt nhất cho những khu vực nhạy cảm môi trường này, người ta tiếp cận bằng quy trình quy hoạch quản lý. Ba bước cơ bản của quy trình này là:
(a) Nhận dạng: Để nhận dạng ra các khu vực nhạy cảm môi trường, người ta phải thiết lập được các chuẩn cứ thích hợp và đem đối chứng. Nó bao gồm các đặc trưng đủ để phân biệt ranh giới cho điều tra ngoài thực địa cũng như việc bảo vệ trước pháp luật, hành chính trong điều kiện hạn chế có thể (về sô liệu, kiến thức cũng như là thời gian).
(b) Sự chấp thuận: Là mức độ được phép sử dụng một phần hay toàn phần khu vực có cam kết đảm bảo rằng việc sử dụng là “tương thích” với chức năng trong hiện tại cũng như làu dài. Điều này phải được thực hiện bằng pháp luật, trong bối cảnh chính trị cũng như khuôn khổ thời gian.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.