Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Một sô vấn đề trong QHMT có liên quan mật thiết đến QHXD (P2)

Một sô vấn đề trong QHMT có liên quan mật thiết đến QHXD (P2)
Rate this post

2. Phân vùng quản lý chất lượng môi trường:
Phân vùng (zoning) là một khái niệm mang tính kỹ thuật được sử dụng ở nhiểu lĩnh vực khác nhau. Trong thiết kế QHMT nó được sử dụng như là một công cụ quan trọng với mục đích quản lý chất lượng môi trường.
Phân vùng quản lý chất lượng môi trường được áp dụng rộng rãi, từ mục tiêu bảo vệ một yếu tố tài nguyên nào đó, như Quy hoạch quản lý chất lượng nước mặt theo các mục đích sử dụng khác nhau, đến quy hoạch quản lý chất lượng môi trường một lãnh thổ…
Việc phân vùng ấiì định các khu vực môi trường với các đòi hỏi về chất lượng môi trường khác nhau (cũng có nghĩa là đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường khác nhau), từ đó đưa đến khả năng kiểm soát các hoạt động, mức độ khai thác tài nguyên, mức độ cho phép trong xả thải các loại chất thải vào môi trường khu vực, mức độ đầu tư… là khác nhau, nhưng cần phải hài hòa trong một hệ thống môi trường chung với tiêu chí là bền vững môi trường trong tương lai.
Việc đề xuất phân vùng không gian môi trường trong quy hoạch nên là việc làm có tính bắt buộc, bởi vì chỉ có như vậy thì việc quản lý môi trường ở từng khu vực mới có tính khả thi, đồng thời nhằm hướng dẫn và kiêm soát các hoạt động phát triển trong mỗi khu vực theo “chức năng môi trường” đã được hoạch định. Điều này cũng có nghĩa là kỹ năng phân vùng giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của bước thiết kế quy hoạch môi trường, đặc biệt là mối liên hệ giữa thiết kế quy hoạch môi trường với thiết kế quy hoạch xây dựng.
Trong thực tiễn, tại nhiều quốc gia trên thế giới việc phân vùng môi trường trong quy hoạch đã được ứng dụng. Thí dụ Quy hoạch môi trường thung lũng Honghe (Kunming, Trung Quốc) đã dựa trên những nghiên cứu sâu về mối tương tác, những ảnh hưởng và những điều luật hiện hành liên quan tới các lĩnh vực dân số, tài nguyên, kinh tế và môi trường mà chia lãnh thổ quy hoạch thành các “khu vực chức năng môi trường” (3 khu vực môi trường lớn, 7 khu vực phụ trợ và 24 tiểu khu vực) và các “khu vực chức năng thành phần môi trường”, với mức độ đầu tư phát triển, các biện pháp kiểm soát, các chính sách quản lý môi trường khác nhau nhằm tạo sự bền vững cho toàn thung lũng. Hay QHMT thành phố Tokyo (Nhật Bản) được hình thành dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội dài hạn của thành phố. Trên cơ sở xác định các vấn đề môi trường cần được xem xét trong quy hoạch (như ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, vấn đề chất lượng nước, đất, độ rung, độ lún, ánh sáng mật trời, sóng điện từ; địa hình, thực vật, động vật và môi trường tự nhiên; các khu di tích và cảnh quan; việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên; môi trường sống và sức khỏe hệ sinh thái…) mà phân vùng quản lý môi trường. Tokyo được phân thành 8 “vùng môi trường” với những giải pháp quản lý, đầu tư, chính sách khác nhau…nhằm đảm bảo tính bền vững của toàn thành phố trong tương lai (theo [18]).
3. Quy hoạch sinh thái:
Quy hoạch sinh thái là phương pháp tiếp cận sinh thái học trong quy hoạch môi trường. Tuy xuất hiện chưa lâu, nhưng phương pháp này đã trở thành một trong các kỹ thuật có giá trị của lĩnh vực QHMT khu vực.
Theo quan điểm sinh thái học, thì “môi trường khu vực là một hay nhiều tập hợp của các hệ sinh thái, có quan hệ mật thiết với nhau”.
E. D. Odum (1983) người đi đầu trong quan điểm nghiên cứu này, đã phân chia lãnh thổ dựa trên các vai trò sinh thái cơ bản. Theo ông có bốn kiểu hệ sinh thái cơ bản, đó là;
Các hệ thống sản xuất, ở đó diễn thế sinh thái được con người kiểm soát liên tục nhằm duy trì mức năng suất cao
Các hệ thống bảo tồn hay hệ thống tự nhiên, nơi cho phép quá trình diễn thế sinh thái tiến tới trạng thái “trưởng thành”, do đó có thể bền vững.
Các hệ thống Hên hợp, trong đó có sự kết hợp của cả hai kiểu trạng thái trên cùng tồn tại (ví dụ các hệ thống đất ngập nước có khả năng tái sử dụng chất thải, điều hòa môi trường chung)
Hệ thống đô thị và khu công nghiệp, là những khu vực không thật quan trọng về sinh học.
Để có một môi trường khu vực bền vững, thì phải đảm bảo hai điều kiện:
Thứ nhất tính đa dạng hệ sinh thái trong khu vực càng lớn càng tốt, tối thiểu phải đạt một tỷ lệ thích hợp nào đó, có như vậy mới đáp ứng được các yêu cầu sinh thái nhất định của khu vực. Thứ hai cần có những hệ sinh thái trẻ phối hợp cùng các hệ sinh thái trưởng thành, nghĩa là phải kết hợp độ tuổi của các kiểu hệ sinh thái theo một tỷ lệ thích ứng nào đấy.
Ý nghĩa thực tiễn của phương pháp này trong quy hoạch không gian môi trường là việc để xuất các phương án tổ chức và sắp xếp các kiểu hệ sinh thái. Việc tổ chức và sắp xếp này đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc về mức độ phù hợp sinh thái cao nhất mà O.Dum đưa ra, cũng như việc sắp xếp các lô đất cận kề phải là tương thích; các mục tiêu môi trường (như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các hệ sinh thái quan trọng giữ vai trò đa chức nãng vể mặt môi trường, quản lý tốt các vùng nhạy cảm môi trường, phòng chống tai biến và ô nhiễm môi trường…) phải luôn đặt lên hàng đầu và được quan tâm đưa vào trong suốt quá trình quy hoạch kinh tế – xã hội cũng như quy hoạch xây dựng.
Như vậy, thiết kế quy hoạch môi trường sử dụng phương pháp phân vùng quản lý chất lượng môi trường và quy hoạch sinh thái đã là một luồng gió mới thổi vào lĩnh vực quy hoạch xây dựng, trước hết là làm thay đổi quan niệm sử dụng đất đai truyền thống cũng như việc lựa chọn bố trí không gian chức năng. Đặc biệt trong quy hoạch xây dựng đô thị, tý lệ cân bằng đất đai phải đáp ứng nhiều yêu cầu hơn, chí ít cũng là các yêu cầu sinh thái. Ngoài ra, nó còn chỉ ra mối tương quan sinh thái hợp lý giữa đô thị với các vùng nông thôn kế cận, đé từ đó hoạch định biên giới hành chính hợp lý cho tùng khu vực đô thị.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.