Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Một số phương pháp Đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực Kiến trúc và quy hoạch xây dựng (P5)

Một số phương pháp Đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực Kiến trúc và quy hoạch xây dựng (P5)
Rate this post

. Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích mở rộng
Phân tích chi phí, lợi ích là một phương pháp mà trước đây vãn dùng để đánh giá hiệu quá của dự án thuần tuý vể mặt kinh tế. Khi phương pháp này được áp dụng trong ĐTM,
nó phải tính tới các chi phí và lợi ích mà dự án mang lại cho môi trường. Trong trường hợp như vậy ta hiểu là quyền lợi kinh tế không còn là vấn đề riêng của chủ đầu tư nữa, mà là vấn đề chung của cộng đồng thông qua việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì chất lượng môi trường. Vì vậy, phương pháp này được gọi là phương pháp phân tích chi phí – lợi ích mở rộng (hàm ý của từ mở rộng là đề cập đến lợi ích của môi trường).
Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích mở rộng dùng để đánh giá các dự án, các nội dung xem xét bao gồm các vấn đề sau đây:
– Chi phí đầu tư ban đầu, vốn cố định, vốn lưu động
– Chi phí bao gồm: chi phí sản xuất (trực tiếp, gián tiếp, chiết khấu cơ sở vật chất, chiết khấu đồng tiền) và các chi phí cho môi trường (thuế và phí ồ nhiễm, cota nhiên liệu, chi phí duy trì chất lượng tài nguyên…)
– Lợi ích bao gồm: Doanh số thu từ bán sản phẩm, các vấn đề phúc lợi xã hội, hiệu quả do giải quyết công ăn việc làm mang lại…
Để có thể hiểu rõ hơn về phương pháp này, chúng ta có thê nghiên cứu ví dụ cụ thể trong phụ lục 1.
Các đại lượng thường được sử dụng trong phân tích chi phí – lợi ích bao gồm:

 

Như vậy NPV chính là lợi nhuận ròng tích lũy, phụ thuộc vào hệ số chiết khấu và thời gian. Thường đối với dự án, giai đoạn thi công và thời gian đầu bước vào hoạt động thì NPV mang dấu âm (nghĩa là chi phí lớn hem lợi nhuận), đến nãm nào đó giá trị này sẽ bằng 0 và sau đó mang dấu dương.
Dùng giá trị NPV để so sánh các dự án phải chú ý thêm tới mức vốn đầu tư ban đầu, vì nhiều khi NPV của hai dự án như nhau nhưng vốn đầu tư ban đầu lại khác nhau. Nếu chỉ xét khía cạnh kinh tế thì phải ưu tiên phương án có mức đầu tư ban đầu ít hơn.
* Hệ sô’ hoàn vốn nội tại (Interna! Return Rate): K Hệ số này được tính theo công thức:

Trong suốt thời gian tuổi thọ của dự án, nếu K càng lớn thì hiệu quả dự án càng cao. Vì vậy dự án có hệ số K lớn thường được quyết định thực hiện. Người ta thường so sánh giá trị K với mức lãi vay vốn ngân hàng để ước tính hiệu quả kinh tế mang lại. Nếu K lớn hơn nhiều mức lãi ngân hàng thì việc đầu tư có hiệu quả kinh tế cao, ngược lại K bằng mức lãi ngân hàng thì việc vay vốn đầu tư không có hiệu quả, còn nhỏ hơn thì dự án bị lỗ.
Theo thời gian, tại năm có B/C = 1 lợi nhuận tích lũy đã bằng chi phí tích lũy. Sau đó tỷ số này sẽ lớn hơn 1 và tăng, nhưng thường tiến dần tới một giá trị giới hạn nào đấy.
Việc sử dụng các hệ số đánh giá trên một cách riêng biệt chưa có thể trả lời dự án nào hoặc phương án nào có lợi ích kinh tế cao, mà phải sử dụng kết hợp chúng với nhau.
Như vậy, ở phương pháp tính toán chi phí – lợi ích mở rộng người ta tính đến toàn bộ thời gian hoạt động của dự án. Trong thực tế có nhiều dự án chỉ có thể mang lại lãi suất cao trong thời gian ngắn, sau đó có thể bị thua lỗ triền miên. Vì vậy việc tính chi phí – lợi ích cho toàn bộ tuổi thọ dự án mới có thể xác định được khả năng thu hồi vốn cũng như hiệu quả kinh tế của dự án. Điều này chỉ có thể thực hiện được trong trường họp đồng tiền tương đối ổn định, tỷ lệ lạm phát thấp.
Trong phương pháp chi phí, lợi ích người ta sử dụng chiết khấu đồng tiền. Việc này phù hợp với nền kinh tế thị trường và theo ý nghĩa của đồng tiền, đặc biệt là đồng tiền tư bản. Theo đó, nếu không đẩu tư để sinh lời thì đồng tiền tự nó cũng mất giá theo thời gian. Đưa chiết khấu đồng tiền vào sẽ động viên được việc bỏ vốn đầu tư sản xuất ra của cải hàng hóa, tránh được tình trạng đọng vốn. Một hình ảnh dễ thấy nhất của chiết khấu đồng tiền là lãi suất tiết kiệm, đây là một phần tiền lời thu được thông qua việc đầu tư của ngân hàng. Ngoài ra, hệ số chiết khấu còn được sử dụng như một công cụ trong quản lý kinh tế. Chẳng hạn các ngân hàng có thể quy định lãi suất cho vay khác nhau đối với các ngành khác nhau. Ví dụ đối với một số ngành, hoặc chủ một số dự án đem lại lợi ích cho nhiều người trong cộng đồng, có tác động tích cực tới môi trường sẽ được hưởng lãi suất thấp, ngược lại đối với các ngành có chất thải độc hại hay chỉ có lợi cho bộ phận nhỏ người trong cộng đổng thì phải chịu mức lãi suất cao hơn.
Nhìn chung ĐTM là một lĩnh vực đa ngành, yêu cầu kiến thức thực hiện không chỉ ở bề sâu mà còn cả bề rộng. Vì vậy muốn làm tốt công tác này chúng ta không chỉ đơn thuần chọn được các chuyên gia, mà vấn đề không kém phần quan trọng là phối hợp giữa họ lại với nhau một cách hiệu quả.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.