Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Một số phương pháp Đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực Kiến trúc và quy hoạch xây dựng (P3)

Một số phương pháp Đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực Kiến trúc và quy hoạch xây dựng (P3)
Rate this post

2.2.4. Phương pháp sơ đó mạng lưới
Phân tích một dự án ta thấy nó có nhiều hoạt động khác nhau (Activity). Mỗi hoạt động lại được thực hiện bởi nhiều hành động (Action). Bất cứ một hành động nào của dự án cũng có thể sẽ tác động đến một hay nhiều nhân tố môi trường. Sự tác động này vừa mang tính song song, vừa mang tính nối tiếp. Những tác động lại có tính tiếp diễn luôn thay đổi theo thời gian do các nhân tố môi trường bị biến đổi tương tác với nhau mà gây nên. Trong hàng loạt những tác động tìm được bao gồm một số là tác động trung gian, một số là tác động cuối cùng. Vì vậy muốn xác định được các tác động cuối cùng, người ta không thể trông cậy vào các phương pháp đã có, mà phải tìm kiếm một phương pháp mới thích hợp, đó là phương pháp sơ đồ mạng lưới.
Phương pháp sơ đồ mạng lưới được xây dựng trên cơ sở là không chỉ xem các hành động của dự án là nguyên nhân gây tác động, mà mọi nhân tố môi trường bị tác động đều có thể là nguyên nhân gây nên tác động thứ cấp sau đó. Những tác động trực tiếp của các hành động tới các nhân tố môi trường bị tác động được gọi là tác động cấpl (hay còn gọi là điều kiện môi trường bị tác động ban đầu), các tác động cấp 1 tương tác với nhau hoặc biến đổi tiếp diễn có hậu quả là tác động cấp 2, các tác động cấp 2 lại tương tác với nhau hoặc biến đổi tiếp diễn có hậu quả là tác động cấp 3, cứ như vậy cuối cùng xu thế môi trường bị tác động theo những nhánh khác nhau.
Bảng 2.12a và bảng 2.12b trích dẫn sau đây là một ví dụ về sử dụng phương pháp sơ đổ mạng lưới để đánh giá tác động môi trường cho phương án sử dụng đất của một dự án phát triển đô thị (theo Westman, Walter, 1985). Có thể hiểu dự án phát triển này như là Quy hoạch mở rộng khu đô thị bao gồm các hạng mục: Làm nhà cao tầng, xây dựng hệ thống sân chơi, xây dựng bãi đỗ xe… Để thực hiện dự án này người ta phải thực hiện hàng loạt các hành động, nhưng do đặc trưng sinh thái, tình hình địa chất thuỷ vãn, điều kiện thổ nhưỡng, địa hình, tài nguyên nước mặt và nước ngầm, khả năng che phủ thực vật và cày cối trong khu vực… mà chọn ra 4 hành động tiêu biểu gây tác động đáng kế’ đến môi trường là: đào kênh thoát nước (A), san lấp mặt bằng (B), làm móng (C) và di chuyển cây cối trong khu vực (D). Các hành động này của dự án đã gây nên những tác động sau: tăng dòng chảy mặt (E); ô nhiễm nước ngầm (F); xáo trộn đất mặt (G); ngập lụt (H); giảm sút cấp nước (I); giảm độ phì của đất (J); gây xói mòn đất (K); ảnh hướng sức khoẻ cộng đồng dân cư (L); thực vật chết (M). Theo luật nhân quả, tác giả thiết lập sơ đồ tác động xẩy ra theo bảng 2.14a dưới đây:
Bảng 2.12a. Sơ đồ tác động môi trường của phương pháp sơ đồ mạng lưới
đê ĐTM cho phương án sử dụng đất (theo Westman, Walter, 1985) [3]

Từ sơ đồ trên ta thấy L, K, N là các tác động cuối cùng, còn các tác động F, E, G, I, H, J là các tác động trung gian. Hay nói cách khác L, K, N là kết quả tiếp diễn của quá trình biến động môi trường F, E, G, I, H, J.
Để định lượng các tác động, tác giả đưa vào mỗi nhân tố môi trường bị tác động 3 thông số đánh giá: mức độ tác động (M j), tầm quan trọng của tác động (hay còn gọi là
trọng số tác động (Wị), và xác suất xảy ra tác động (Sj). Trên cơ sở định lượng các tác
động, đi đến xác định tác động nhánh hay tổng tác động cho toàn mạng lưới theo công thức sau:

Trong đó: Mị – mức độ tác động của nhân tố môi trường thứ i.
Wj – tầm quan trọng của nhân tố môi trường thứ i .
Sj – xác suất xảy ra tác động đến nhân tố môi trường thứ i. m – số lần các nhân tố môi trường bị tác động (nếu m là số lần các nhân tố môi trường của nhánh bị tác động thì kết quả cho ta tổng tác động nhánh, nếu m là số lần các nhân tố môi trường của toàn mạng lưới bị tác động thì kết quả cho ta tổng tác động của toàn mạng).
Các giá trị định lượng được xác định theo phương pháp chuyên gia của dự án nêu ở bảng 2.12a, được thể hiện ở bảng 2.12b dưới đây:
Bảng 2.12b. Mức độ, tầm quan trọng và sác xuất xảy ra tác động. [3]

Áp dụng công thức, ta tính được các chỉ số tác động môi trường như sau :
Nhánh 1: E, = 2.5.0,5 + 2.9.0,6 + 2.10.0,9 = 33,8
Nhánh 2: E2 = 5.3. 0,8 + 5.3.0,7 + 4.3.0,7 + 3.7.0,7 = 51,2
Nhánh 3: E3 = 3.4.0,3 + 3.4.0,4 + 2.5.0,8 + 1.6.0,8 = 21,2
Chỉ số tổng hợp cho toàn mạng lưới: E = 33,8 + 51 + 21,2 = 106,2
Phương pháp sơ đồ mạng lưới được nảy sinh từ những kinh nghiệm nghiên cứu về dòng năng lượng và cân bằng năng lượng trong các hệ sinh thái. Sau đó được vận dụng rộng rãi vào việc phát triển các vùng ven biển nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa các yêu cầu sứ dụng của các ngành kinh tế khác nhau và ngãn chặn xu thế thoái hóa tài nguyên
tại các vùng này.
Điểm mạnh của phương pháp mạng lưới là cho biết nguyên nhân và con đường dẫn tới những hậu quả tiêu cực tới môi trường, từ đó có thể đề xuất các biện pháp phòng tránh ngay từ khâu quy hoạch, thiết kế hoạt động phát triển. Phương pháp mạng lưới thích hợp cho phân tích tác động sinh thái là do trên mạng lưới có thể biểu thị các dòng nãng lượng có độ đo chung. Điểu đáng tiếc là cho tới nay các sơ đồ mạng lưới chỉ chú ý phân tích các khía cạnh tiêu cực tới tác động sinh thái, mà chưa thể dùng để phân tích các tác động xã hội cũng như các giá trị thẩm mỹ của cảnh quan… Thông thường phương pháp mạng lưới được dùng để ĐTM cho một dự án cụ thể, không thích họp cho việc ĐMC của các chương trình hoặc kế hoạch khai thác tài nguyên trên một địa phương. Nhược điểm của phương pháp này là: việc xác định tầm quan trọng của nhân tố môi trường, mức độ tác động môi trường còn mang tính chủ quan của các chuyên gia. Việc quy hoạch tổng tác động của một phương án vào một con số không giúp ích thiết thực cho việc ra quyết định. Và sự phân biệt khu vực tác động, khả năng phòng tránh, giảm thiểu các tác động không thể biểu hiện trên ma trận.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.