Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Môi trường tự nhiên (P3)

Môi trường tự nhiên (P3)
Rate this post

b) Thuỷ quyển
– Khái niệm chung vê thuỷ quyển là lớp vỏ lỏng không liên tục bao quanh Trái đất gồm: nước mặn, nước ngọt cả trong ba trạng thái rắn, lỏng và hơi. Như vậy thủy quyển chính là nước ở biển, đại dương, ao hồ sông ngòi, nước ngầm, bãng tuyết và mây mưa.
Khối lượng của thủy quyển khoảng 14.1018 tấn (xấp xỉ bằng 7% khối lượng thạch quyển) trong đó, đại dương có khối lượng chiếm 97,4% toàn bộ thủy quyển; bãng trên núi cao và hai cực Trái đất chiếm 1,98%; nước ngầm chiếm 0,6%; nước ao hồ sông ngòi và hơi nước chiếm 0,02%.
Ranh giới trên của thủy quyển là mặt nước của các đại dương, ao, hồ. Ranh giới dưới của thủy quyển khá phức tạp: từ các đáy đại dương có độ sâu hàng chục km cho đến vài chục cm ớ các vùng núi ngập nước. Theo diện tích che phủ, thủy quyển, phần chủ yêu là đại dương chiếm 361 triệu km2 hay 70,8 % bể mặt Trái đất với dung tích chứa nước là 1.338,5 ngàn km\ độ sâu trung bình 3.800m, nhưng phân bố không đều trên bề mặt Trái đất
Các đặc trưng vật lý của nước biển có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái biển, bao gồm tỷ trọng, nhiệt độ, mực nước biển, hệ số truyền bức xạ ánh sáng trong nước biển. Nước biển có tỷ trọng dao động từ 1,0275 – 1,022 (kg/lit ở nhiệt độ 0°c hoặc 17,5°C) tùy thuộc vào độ muối. Nhiệt độ của nước biển không đồng đểu và phụ thuộc vào vị trí địa lý, điều kiện khí hậu cũng như sự cân bằng nhiệt trong đại dương. Nếu tính trung bình năm trên toàn bộ bề mặt đại dương thì nhiệt độ bề mặt là 17,4°c (nóng nhất là Biến đỏ và vịnh Pecxich là 35,6°C; lạnh nhất là Bắc Băng Dương 0,75°C). Nhiệt độ của nước biển giảm dần theo độ sâu nhưng không thấp hơn 0°c.
Vì vậy nước biển và đại dương là nơi điều hòa nhiệt độ và khí hậu Trái đất. Mặt biển nhận ánh sáng trực xạ của Mặt trời và ánh sáng tán xạ của bầu trời nhưng cường độ ánh sáng càng xuống sâu càng giảm dần: sáng rõ ở tầng từ 0 – 200m; sáng mờ ở tầng 200 – l.OOOrn; tối đen ở tầng sâu trên l.OOOm. Vì vậy sinh khối của biển chủ yếu tập trung ở tầng nước mặt từ 0 – 200m.
Mực nước biển tương đối ổn định, tuy nhiên trong lịch sử phát triển của Trái đất, mực nước biển thay đổi mạnh mẽ theo thời gian địa chất. Vào thời kỳ băng hà lớn cách đây 18.000 năm mực nước biển xuống thấp 100m so với ngày nay. Hiện nay mực nước biến đang có xu hướng dâng cao, ứng với thời kỳ tan băng và do tác động của hiệu ứng nhà kính.
Nước biển chứa hầu hết các nguyên tố hóa học của vỏ Trái đất với nồng độ khác nhau nhưng có tỷ lệ hàm lượng khá ổn định, trong đó muối kiềm và kiềm thổ có nồng độ lớn nhất. Trung bình, một lít nước biển chứa 35 gam muối các loại nhưng chủ yếu là NaCl. Độ muối của nước biển thay đổi phụ thuộc vào vị trí địa lý, nguồn cung cấp nước từ lục địa, và mức độ bốc hơi.
Nước biển còn luôn hòa tan một sô’ chất khí từ khí quyển. Hàm lượng khí hòa tan của nước biển như sau: Oxy là 0 – 9mg/lít; Nitơ là 8,4 – 14,5mg/lít; tổng co, là 34 – 56
mg/lít; Acgon là 0,2 – 0,4 mg/lít; Heli và Neon là 1,7 – 104 mg/lít; H2S từ 0 – 22 mg/lít.
Mặt biển luôn biến động bởi các loại sóng, thủy triều và dòng chảy trên biển. Người ta phàn sóng thành nhiều loại: sóng gió, sóng áp, sóng tầu, sóng thủy triều,… và đặc biệt là sóng thần khi có địa chấn mạnh trong lòng đại dương. Mỗi loại sóng biển được đặc trưng bới các yếu tố vật lý như: độ cao sóng, bước sóng, chu kỳ, vận tốc truyền sóng, hướng truyền sóng… Sóng biển có năng lượng lớn nên nó gây tác động mạnh mẽ tới môi trường biến và đới ven bờ. Dưới tác dụng tổng hợp của lực hấp dẫn Mặt trăng, Mặt trời và Trái đất, mực nước biển trung bình dao động theo một chu kỳ thời gian gọi là chu kỳ triều. Dựa theo số lần dao động mực nước biển trong ngày, người ta chia ra các chế độ triều: nhật triều, bán nhật triều, hay triều hỗn hợp. Mỗi một chu kỳ triều có một tập hợp các đặc trưng: thời gian triều rút, biên độ triều, độ lớn triều. Các vùng biển khác nhau có chế độ triều khác nhau.
Do khối nước biển luôn ở trạng thái chuyển động theo chiểu đứng cũng như chiều ngang, nên xem chúng như là những dòng chảy trong biển. Trong đại dương có những dòng chảy lớn gọi là hải lưu, chúng được hình thành dưới tác động tổng hợp của khí quyển, bức xạ Mặt trời, các lực tạo triều, và lực coriolit (do Trái đất tự quay quanh trục của nó tạo ra). Như dòng chảy nóng Gulftream ở Đại Tây Dương xuất phát từ xích đạo cháy lên phía bắc cạnh châu Âu, có chiều rộng tới vài trăm km, dài 800km với tốc độ dòng chảy là 2,5 m/s. Hay hệ thống dòng chảy nóng Kuroshivo ở bắc Thái Bình Dương rộng 80km, dài 400km, từ phía xích đạo tới sưởi ấm cho vùng Alatska. Các dòng chảy lạnh thì ngược lại, xuất phát từ miền cực Trái đất chảy xuống xích đạo, như dòng chảy
Peru đi từ Nam iQực Xiuông. Nhìn chung các dòng chảy biển phản = ánh trường gió tổng quát ở lớp không khí sát mặt nước, bản thân chúng lại mang nhiệt nên có tác động rất quan trọng tới thời tiết, khí hậu, cung cấp dinh dưỡng cho sinh vật biển và có giá trị giao thông trên đại dương, đặc biệt Tà thời kỳ quan hệ mậu dịch giữa các quốc gia bằng thuyền buồm (xuất sứ tên gọi gió mậu dịch).
Một hiện tượng chi phối khí hậu, làm thay đổi thời tiết xảy ra có tính chu kỳ ớ rìa Đông và rìa Tậy Thãi Bình Dương do ảnh hưởng của các dòng hải lưu nóng và lạnh là hiện tượng El ‘Ninô và La Nina. El Ninô là hiện tượng thời tiết xảy ra mưa lớn ớ rìa Đông và khô hạn kéo dài ở rìa Tây Thái Bình Dương vào dịp lễ giáng sinh. Điều này có liên quan đốn sự móng lên của nước biển vùng gần xích đạo phía Đông Thái Bình Dương. Hiện tượng La Nina thì ngược lại, khi vùng nước biển gần xích đạo phía Đỏng Thái Bình Dương lạnh đi, thì rìa Tây Thái Bình Dương bị mưa lũ.
– Nước ngọt lục địa gồm nước mặt và nước ngầm mặc dù có khối lượng nhỏ so với toàn bộ thủy quyển, khoảng 33,5.1015 tấn (tương đương 0,62% khối lượng thủy quyển, trong đó nước ngầm chiếm 0,6% còn nước mật chỉ có 0,02%) nhưng có vai trò cực kỳ to lớn đối với sự sồng trên Trái đất . Ngoài ra nó còn giữ vai trò điều hòa khí hậu lục địa và tạo ra dự trữ năng lượng sạch của con người. Vì vậy nước ngọt lục địa (sông suối, ao hồ, nước ngầm) cần phải được co người quan tâm bảo vệ giữ gìn, đặc biệt hệ nước mặt rất mỏng manh phái thực sự cẩn trọng trong quá trình sử dụng. Hiện tượng bùng nổ đô thị trên thế giới hiện nay đồng nghĩa với sự hình thành hàng loạt các khu công nghiệp và không ngừng mở rộng lãnh thổ đô thị đã gây nên những tác động xâm hại đáng kể đối với nguồn tài nguyên quý giá và nhỏ bé này, đã và đang trở thành vấn đề thách thức của nhiều quốc gia tại nhiều khu vực trên Trái đất!

Khí quyển

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.