Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Mối quan hệ giữa con người và phát triển (P2)

Mối quan hệ giữa con người và phát triển (P2)
Rate this post

Trong phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn thế giới luôn luôn song song tổn tại hai hệ thống: hệ thống kinh tế xã hội và hệ thống môi trường. Hệ thống kinh tế xã hội được cấu thành bởi các thành phần sản xuất, phân phối, tiêu dùng và tích lũy, vì thế đã tạo nên một dòng nguyên liệu, nãng lượng, hàng hóa, phế thải… lưu thông giữa các phần tử cấu thành hệ. Các thành phần trên luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần của hệ thống môi trường tự nhiên trong địa bàn. Khu vực xẩy ra tương tác giữa các thành phần trong hai hệ thống nói trên (gọi là khu vực giao nhau giữa hai hệ thống) là môi trường nhân tạo. Có thể xem cái “môi trường nhân tạo” này như là kết quả tích lũy của quá trình hoạt động phát triển mà con người thực hiện trên địa bàn môi trường tự nhiên.
Mối quan hệ hai chiều giữa hệ thống kinh tế xã hội và hệ thống môi trường đã mang lại kết quả là làm lợi cho nhau (gọi là tác động tích cực), hoặc làm hại cho nhau (gọi là tác động tiêu cực). Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hay tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhung ở khía cạnh có hại là làm hao tốn tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường. Ngược lại môi trường tự nhiên do bị ô nhiễm cũng như cạn kiệt và suy thoái nguồn tài nguyên đã hạn chế sự phát triển, đồng thời gây ra thảm họa thiên tai đối với kinh tế xã hội trong khu vực. Phân tích hiện trạng xã hội hiện nay, chúng ta thấy hai biểu hiện khá rõ về ảnh hưởng môi trường ở các quốc gia khác nhau:
Ô nhiễm do dư thừa ở các nước giầu trong việc sử dụng thực phẩm, nãng lượng và tài nguyên. Chỉ với 20% dân số thế giới của các nước giầu hiện sử dụng đến 80% của cải và năng lượng toàn cầu. Trong khi đó 80% dân số thế giới ở các nước nghèo chỉ sử dụng 20% của cải và năng lượng còn lại. Sự dư thừa của cải vật chất quá mức ở các nước giầu đã làm tổn hao lãng phí một lượng lớn tài nguyên và môi trường chịu một sức tải ô nhiễm nặng nề do các chất thải thải ra từ hệ thống kinh tế xã hội.
ô nhiễm do nghèo đói của tầng lớp người nghèo khổ ở các nước nghèo, với con đường phát triển duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (như phá rừng, đào bới khoáng sản, khai thác nông nghiệp, săn bắt động vật hoang dã, đánh bắt hải sản…) một cách tự phát không tuân thủ biện pháp quản lý hoặc không quản lý được, tất cả đã làm cho môi trường kiệt quệ, các hệ sinh thái mất cân bằng dẫn đến khủng hoảng hoặc bị tiêu hủy, các hiện tượng thiên tai nảy sinh với tần suất ngày một cao và cường độ ngày một lớn. Kết quả là kinh tế – xã hội ngày một giảm sút, con đường nghèo đói ngày một tăng. Vòng nghèo đói luẩn quẩn ấy đang là thách thức đối với các nước đang phát triển trong công tác bảo vệ môi trường cũng như thúc đẩy nền kinh tế hiện nay.
Xuất phát từ mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển trên đây, một số các nhà xã hội học đã đưa ra lý thuyết đình chỉ phát triển làm cơ sở bảo vệ tài nguyên và môi trường, nội dung của nó là duy trì sự tăng trưởng kinh tế bằng không hoặc mang giá trị âm. Chỉ có như vậy mới giữ được tài nguyên và giảm thiểu sự ô nhiễm, loài người mới tránh được diệt vong. Hành động và tư duy này mang ý nghĩa không tướng vì nó đi ngược với quy luật của triết học và lẽ sống. Lý thuyết và thực tiễn đã chứng minh rằng môi trường và phát triển là một thể thống nhất có hai mặt đối lập. Nếu biết giải quyết mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập này nhân loại sẽ tránh được thảm họa trong tương lai. Vì vậy mong muốn sự phát triển có tính bền vững hơn đã làm ra đời thuật ngữ “Phát triển bền vững” từ những năm 70 của thế kỷ 20, và chính thức được thừa nhận trong Chương trình Nghị sự 21, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro nãm 1992. Đây là khái niệm mới mẻ, đang được nghiên cứu để hoàn thiện về phương pháp luận và thực tiễn, nhưng tiêu chí tổng quát thì đã được thống nhất, nghĩa là sự phát triển của các quốc gia và nhân loại phải bảo đảm tính bền vững trên ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.
Ngày nay công tác bảo vệ môi trường tập trung vào ba nội dung chính sau đây:
+ Khoa học môi trường:
Khoa học môi trường là lĩnh vực nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với môi trường ở mọi quy mô. Quy mô nhỏ là mối quan hệ giữa con người với nhà cửa họ ở (lĩnlì vực kiến trúc công trình), quy mô vừa là giữa con người với làng mạc, phố phường, nơi họ cư trú (lĩnh vực Quy hoạch xảy dựng dô thị và nông thôn), quy mô lớn là mối quan hệ giữa con người với môi trường của những không gian rộng lớn hơn mang tính chất vùng lãnh thổ hoặc quốc gia (lĩnh vực quy hoạch xây dựng vùng). Quy mô lớn nhất là mối
quan hệ giữa nhân loại với sinh quyển. Từ đó khoa học môi trường đề xuất các mô hình sinh thái hợp lý, đảm bảo sự cân bằng sinh thái giữa con người và môi trường. Một trong các mô hình đó là “Phát triển bển vững”. Cũng cần phải biết thêm rằng, sau khi mô hình phát triển bền vững ra đời, thuật ngữ “Phát triển bền vững” đã trở thành quen thuộc, nó đã nhanh chóng thâm nhập vào nhiều lĩnh vực và phát triển mang sắc thái chuyên ngành. Thí dụ như phát triển bển vững nông nghiệp, phát triển bền vững ngư nghiệp, phát triển bền vững quy hoạch – kiến trúc, phát triển bền vững giao thông vận tải, phát triển bền vững trong lập kế hoạch đầu tư, phát triển bền vững dân số v.v…
+ Công nghệ môi trường:
Công nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lý, hóa học, sinh học nhằm xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản xuất cũng như từ các hoạt động khác của con người (công nghệ xử lý chất thải), và tìm kiếm những dạng công nghệ sử dụng tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, nhằm giảm thiểu chất thải độc hại và ít nguy hiểm cho môi trường hơn, hoặc công nghệ sử dụng các dạng năng lượng và vật liệu mới thay thế năng lượng và vật liệu truyền thống, bằng các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo (công nghệ thân môi trường, công nghệ cao). Công nghệ môi trường bao gồm các tri thức dưới dạng nguyên lý, quy trình, và các thiết bị kỹ thuật. Ở các nước phát triển, tại các cơ sở sản xuất vốn đầu tư cho các thiết bị công nghệ xử lý chất thải chiếm từ 10% – 40% tổng vốn đầu tư sản xuất. Việc đầu tư này tuy cao nhưng vẫn nhỏ hơn nhiều so với kinh phí cần thiết để phục hồi sự cố môi trường khi đã bị ô nhiễm.Việc tìm kiếm công nghệ thân môi trường, công nghệ cao (Hi-Tech) sử dụng các dạng năng lượng thuộc tài nguyên tái tạo bước đầu đã có những kết quả khả quan, đảm bảo một sự tin cậv trong tương lai.
+ Quản lý môi trường:
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp từ luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, nhằm hạn chế những tác động có hại do phát triển kinh tế xã hội đến môi trường. Biện pháp tổng hợp này mang tính chất quản lý nhà nước đối với các nhà sản xuất. Cơ sở pháp lý của quản lý môi trường là luật và các quy định của văn bản dưới luật của các ngành chức năng, các tiêu chuẩn quy phạm môi trường. Xét về mặt kinh tế, quán lý môi trường là biện pháp có hiệu quả nhất bởi vì làm tốt công tác này chúng ta tiết kiệm được rất nhiều tiền của do không để xảy ra sự cố môi trường cũng như chi phí khắc phục nó.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.