Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Mối quan hệ của ĐTM với các công cụ quản lý môi trường (P4)

Mối quan hệ của ĐTM với các công cụ quản lý môi trường (P4)
Rate this post

8. Nghiên cứu và triển khai khoa học, công nghệ
Nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ đã đưa loài người tiến một bước dài trên con đường phát triển. Nó đã góp phần giải quyết những vấn đề có ý nghĩa to lớn như tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống cho các cộng đồng dân cư với số lượng người được hưởng ngày một tăng trên toàn thế giới.
Nhưng công nghệ có thể dẫn tới những tác động tiêu cực và gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy phải xem xét việc nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ ở cả hai mặt của nó: tích cực và tiêu cực. Đây là xu hướng phát triển mới của khoa học công nghệ. Theo xu hướng này, công nghệ tiên tiến phải giúp chúng ta tận dụng tốt hơn, hiệu quả hơn tài nguyên môi trường, nhưng hàng hóa sản xuất ra ngày lại một nhiều hơn và đa dạng hơn. Điểu này trước đây còn khá mơ hồ, nhưng kinh nghiệm thực tế phát triển công nghệ trong những năm qua đã khẳng định xu hướng đúng đắn của nó. Công nghệ sinh học giúp chúng ta lai tạo được những giống năng suất cao, chống chịu được sâu bệnh. Công nghệ điện tử – tin học giúp con người có thông tin nhanh hơn. Cơ khí hóa và tự động hóa làm giảm nhẹ lao động cho con người và vươn tới năng suất cao. Công nghệ khai thác các nguồn năng lượng mới đã và đang hứa hẹn nhiều tiềm năng to lớn cho phát triển bền vũng. Tuy nhiên trong giai đoạn quá độ khi mà công nghệ mới chưa đủ khả năng làm chủ nền kinh tế, thì một mặt cần áp dụng nhũng công nghệ sản xuất mới có lợi cho môi trường (công nghệ sạch, công nghệ thân môi trường, công nghệ cao), mặt khác phải có các công nghệ xử lí chất thải trước khi thải ra môi trường.
Kiến thức về phát triển khoa học công nghệ rất cần thiết cho công tác ĐTM, nắm vũng kiến thức này sẽ có khả năng phân tích các tác động của hoạt động sản xuất đến môi trường cũng như lựa chọn được các phương án hay dự án thay thế phù hợp, vì cùng sản xuất một loại hàng hóa như nhau có thể có nhiều công nghệ khác nhau. Như vậy trong ĐTM phải đánh giá được công nghệ nào ít gây tác động hoặc gây ra nhũng tác động dễ khắc phục. Điều này rất quan trọng có thể giúp người sản xuất thay đổi công nghệ lạc hậu bằng công nghệ tiên tiến hơn. Một trong những nội dung cơ bản của ĐTM là để xuất các giải pháp phòng tránh, khắc phục, xử lý các tác động tiêu cực. Giải pháp công nghệ sẽ là một trong các giải pháp chính có thể đảm nhận công việc này. Các công nghệ xử lý chất thải được nghiên cứu và áp dụng cho phép loại bỏ một số loại chất độc có trong chất thải trước khi thải ra môi trường. Người thực hiện ĐTM phải chỉ rõ những công nghệ nào là thích hợp với việc xử lý chất thải của dự án gây ra.
Luật Bảo vệ môi trường 2005, Điều 108 và 109 là cơ sở pháp lý để chúng ta thực hiện công tác nghiên cứu và triển khai khoa học, công nghệ bảo vệ môi trường.
.9. Công cụ kinh tê
Có thể coi công cụ kinh tế là công cụ tổng hợp, nó không chỉ dựa trên cơ sở các công cụ nêu trên, mà còn chỉ ra khả năng thực thi về mặt tài chính. Kết quả nghiên cứu trong kinh tế môi trường chỉ ra rằng hoạt động sản xuất luôn tạo nên ngoại ứng tới môi trường xung quanh. Chi phí giải quyết các ngoại ứng này chưa được tính trong chi phí sản xuất. Vì vậy trong kinh tế môi trường đưa ra cách tiếp cận công cụ kinh tế có tính đến chi phí ngoại ứng để tìm ra được mức sản xuất tối ưu, đó là mức sản xuất cho tổng lợi nhuận xã hội (bao gồm cả hệ thống sản xuất và môi trường xung quanh) đạt cực đại.
Để đảm bảo hoạt động sản xuất ở mức tối ưu, nhiều nhà khoa học đã đưa ra các biện pháp kinh tế, chẳng hạn theo Ronall Coase thì có thể sử dụng thị trường, thông qua mặc cả đền bù giữa người sản xuất (người gây ô nhiễm) và người chịu ô nhiễm, hoặc Pigou đã đặt ra thứ thuế buộc người sản xuất điều chỉnh mức sản xuất về mức tối ưu. Nhà nước cũng có thể áp dụng các biện pháp buộc người sản xuất giảm mức thải như định ra tiêu chuẩn hoặc phát hành quota ô nhiễm. Các quota ô nhiễm dựa trên ý tưởng quota xuất nhập khẩu, nghĩa là người sản xuất muốn thải, phải mua quota ô nhiễm và quota ô nhiễm này có thể chuyển nhượng được. Với hệ thống quota ô nhiễm có thể giúp những người sản xuất tính toán, chuyển nhượng cho nhau nhằm tối thiểu hóa toàn bộ chi phí phát thải. Kinh tế môi trường cũng đã chỉ ra những nguyên lý cơ bản của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, cả tài nguyên tái tạo được và không tái tạo được, hướng tới phát triển bền vững mà vẫn thu được lợi nhuận cao. Những nguyên lý này, cần được tính đến trong các báo cáo ĐTM. Trong thực tế một sô’ công cụ kinh tế đã và đang được áp dụng trong quản lý môi trường như thuế môi trường, phí môi trường, quota ô nhiễm, quỹ môi trường. Trong những trường hợp cụ thể, có thể đề xuất các giải pháp này như là giải pháp giảm bớt, khắc phục hậu quả và ngăn chặn tác động có hại. Chẳng hạn trong ĐTM ta có thể đề xuất một biện pháp công nghệ để xử lý, song vấn đề tài chính lại không cho phép. Khi đó có thể áp dụng giải pháp lập quỹ môi trường tạo nguồn vốn cho công tác này trong khu vực. Nguồn vốn này vừa giúp, vừa bắt buộc chủ dự án phải áp dụng các biện pháp xử lý ô nhiễm, khắc phục hậu quả được đề ra trong báo cáo ĐTM. Ngược lại, chính thông tin thu thập được trong quá trình ĐTM lại có thể giúp thực hiện các công cụ kinh tế tốt hơn, việc xác định các chỉ tiêu chính xác hơn.
Luật Bảo vệ môi trường 2005, từ điều 110 đến điều 117 là những quy định nói về Nguồn tài chính bảo vệ môi trường (như ngân sách nhà nước về bảo vệ môi trường; thuế môi trường; phí bảo vệ môi trường; ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác TNTN; quỹ bảo vệ môi trường) và phát triển dịch vụ bảo vệ môi trường cũng như các chính sách ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường khác.
Tóm lại ĐTM là công cụ quản lý môi trường, vì nó có mối quan hệ hai chiều với tất cả các công cụ quản lý môi trường khác.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.