Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Mối quan hệ của ĐTM với các công cụ quản lý môi trường (P2)

Mối quan hệ của ĐTM với các công cụ quản lý môi trường (P2)
Rate this post

3.Công cụ kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa là công cụ không thể thiếu để thúc đẩy và định hướng nền kinh tế phát triển. Muốn thực hiện thành công sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội phải dựa trên tiềm năng của môi trường và tài nguyên. Vì vậy kế hoạch hoá bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên là một việc làm hết sức quan trọng cho mọi phát triển. Vì vậy, Quy hoạch mồi trường có mối quan hệ mật thiết với các quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch phát triển lãnh thổ, quy hoạch sử dụng tài nguyên. Trong các quy hoạch tổng thể, tài nguyên môi trường được xem xét một cách khái quát, dài hạn, còn trong các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn được đề cập chi tiết hơn, đồng bộ và cân đối hơn giữa mục tiêu và nguồn lực. Ở các nước phát triển, các kế hoạch được lập và thực thi rất hiệu quả. Song ở các nước đang phát triển, công tác này còn hạn chế vì thiếu kinh nghiệm và đặc biệt là thiếu hụt nguồn lực về kinh tế, kỹ thuật. ĐTM các dự án cụ thể phải bám sát công tác kế hoạch hóa, trên cơ sở đó mới có cách đánh giá phù hợp. Ngược lại, các quy hoạch lãnh thổ lại là đối tượng của đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC – trình bầy ở phần sau), nghĩa là phải xem xét sự phù hợp của nó đối với việc bảo vệ môi trường. Nếu bước quy hoạch đúng (tức là việc bố trí phát triển các không gian tương hợp với điều kiện môi trường và TNTN), thì các dự án thực thi sẽ không gây tác động đáng kể đến chất lượng tài nguyên và môi trường sống, nó sẽ mang lại lợi ích cho con người. Còn quy hoạch bất lợp lý có thể mang lại tổn thất về tài nguyên và môi trường, lúc này cần đến chi phí để khắc phục. Như vậy tương ứng với chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội cần có chính sách, chiến lược bảo vộ môi trường đảm bảo phát triển bền vững. Hai loại chính sách, chiến lược này thống nhất, hỗ trợ nhau để đảm bảo các mục tiêu phát triển chung.
Những người lập chính sách hỗ trợ phát triển sẽ phải góp phần điều chỉnh chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế của tài nguyên và môi trường hơn. Hệ thống pháp luật về môi trường đưa ra phải trên cơ sở hiểu biết về các điều kiện môi trường và phương hướng phát triển kinh tế. Nếu luật pháp không phù hợp có thể gây cản trở phát triển kinh tế hoặc gây tổn thất cho thiên nhiên và môi trường. Ở mức quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, các yếu tố môi trường, tài nguyên phải được xem xét kỹ vì đây là những đối tượng cốt lõi gây tổn hại trực tiếp đến môi trường.
4. Công cụ thông tin, dữ liệu
Bảo vệ môi trường là công việc đòi hỏi cơ sở khoa học liên ngành, cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội. Chỉ tính riêng khoa học tự nhiên, ta đã thấy mối liên hệ của công tác này với các ngành sinh vật học, thủy văn học, khí tượng học, lâm nghiệp học, hải dương học… Nghĩa là khi xử lý một vấn đề môi trường ta cần tổng hợp kiến thức của nhiều ngành, mỗi ngành khoa học lại cần có một hệ thống thông tin dữ liệu riêng, chẳng hạn nghiên cứu khí hậu học ta phải có số liệu đo đạc dài hạn của nắng, mưa, áp suất khí quyển, bức xạ… Do vậy số lượng các yếu tố cũng như độ dài các dãy số liệu cần cho công tác nghiên cứu bảo vệ môi trường là rất lớn. Tất nhiên chúng ta có thể tổ chức đo trực tiếp các yếu tố đặc trưng chất lượng môi trường mà chưa có trong các phép đo của các ngành này. Ở các nước phát triển đã hình thành mạng lưới đo đạc các yếu tố môi trường, được gọi là hệ thống monitoring. Hệ thống này bao gồm nhiều trạm đo đạc, thu thập các yếu tố như nồng độ các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất, tiếng ổn,… Tuỳ theo mục đích, quy mô nghiên cứu mà người ta bố trí vị trí đo, soạn thảo quy trình đo và tần suất đo thích hợp đảm bảo số liệu thu được có thể trả lời được các câu hỏi của vấn đề đặt ra. Nhìn chung việc thiết lập hệ thống monitoring khá tốn kém với chi phí máy móc, thiết bị và chi phí duy trì trạm,… Chính vì vậy ở các nước đang phát triển thì hệ thống này còn rất hạn chế.
ơ Việt Nam, hệ thống monitoring mới được hình thành, nên còn thiếu thốn cả về máy móc, thiết bị lẫn quy trình quy phạm và nhân lực. Trước thực trạng ấy, Luật Bảo vệ môi trường 2005 ra đời, đã dành chương X (từ điều 94 đến điểu 105) quy định về quan trắc và thông tin môi trường, nhằm nâng cao hoạt động của hệ thống monitoring cũng như chất lượng sử dụng hệ thống thông tin dữ liệu này.
Số liệu thu được từ các nguồn khác nhau sẽ được tổng hợp, chỉnh lý, xử lý để nâng cao độ tin cậy và dễ sử dụng tạo nên cơ sở dữ liệu thống nhất của quốc gia hoặc khu vực. Công nghệ Internet cho phép chúng ta sử dụng được số liệu từ các khu vực khác nhau một cách nhanh chóng. Số liệu quan trắc từ vệ tinh, số liệu viễn thám trở thành cơ sở tin cậy cho các luận cứ khoa học bảo vệ môi trường nói chung và phân tích đánh giá ĐTM nói riêng. Công cụ thông tin dữ liệu có tính chất quyết định đến sự đúng đắn và độ chính xác của các nhận định về hiện trạng tài nguyên, dự báo diễn biến các yếu tố môi trường cũng như tác động môi trường của các dự án đã, đang và sẽ hoạt động. Số liệu đã giúp chúng ta đánh giá hiện trạng môi trường, làm nền cho đánh giá tác động của các dự án sẽ hoạt động đến môi trường khu vực. Số liệu đo đạc khi dự án đã hoạt động sẽ giúp điều chỉnh hoạt động đúng hướng hơn, hiệu quả hơn. Đây là công cụ phục vụ nhiều lĩnh vực khác nhau và không thể thiếu được trong ĐTM.
5. Đây là công cụ mới được áp dụng trong quản lý môi trường. Kế toán môi trường là sự phân tích, tính toán nhằm xác định một cách định lượng với độ chính xác nhất định về sự gia tãng hoặc suy thoái môi trường, dự trữ tài nguyên thiên nhiên trong một khoảng thời gian nào đấy do các hoạt động phát triển mang lại được biểu thị qua giá trị tiền tệ. Vì vậy, kế toán môi trường khác với thông tin dữ liệu ở chỗ là công cụ thông tin dữ liệu cho biết hiện trạng tài nguyên môi trường, dự báo diễn biến các yếu tố tài nguyên môi trường cũng như tác động môi trường của các dự án đã, đang và sẽ hoạt động thông qua số liệu đo đạc đã được chỉnh lí, thì kế toán môi trường còn xác định được những giá trị ấy thông qua đơn vị tiền tệ. Như vậy với sự thay đổi giá trị tài nguyên thiên nhiên, môi trường được tính bằng tiền theo thời gian sẽ giúp ta xác định được “lợi ích” hay “mất mát” do hoạt động phát triển mang lại. Việc xác định giá trị các tài nguyên môi trường bằng tiền nhiều khi rất khó khăn bởi vì nhiều loại tài nguyên môi trường rất khó định giá. Một số loại nguyên vật liệu như gỗ, khoáng sản, đất đai, có thể định giá qua thị trường, song chất lượng không khí, chất lượng nước, đa dạng sinh học, tổn hại sức khoẻ… lại không thể hoặc rất khó định giá thông qua thị trường. Tuy nhiên người ta vẫn có thể tìm ra những phương pháp để ước tính giá trị tài nguyên môi trường bằng tiền. Tại nhiều nước đã xây dựng các phương pháp kế toán cụ thể đối với một số loại tài nguyên trên cơ sở các dữ liệu quan trắc tài nguyên môi trường. Tất nhiên các con số đánh giá này chỉ là ước tính, không thể phản ánh hết giá trị của tài nguyên thiên nhiên, nhưng nếu sử dụng đồng nhất cách định giá sẽ cho phép chúng ta so sánh xu thế thay đổi của tài nguyên trong phạm vi toàn cầu. Trong ĐTM, công tác kế toán môi trường giúp chúng ta sử dụng được các chỉ tiêu đánh giá kinh tế mở rộng cho các tác động. Phương pháp Phân tích chi phí – lợi ích mở rộng hiện đang là phương pháp dùng để so sánh hiệu quả kinh tế môi trường của các dự án khác nhau hoặc các phương án khác nhau trong cùng một dự án. Các chỉ tiêu đánh giá như giá trị hiện tại ròng, hệ số hoàn vốn nội tại hay tỉ số lợi ích chi phí (có tính đến chi phí, lợi ích môi trường) được áp dụng để đánh giá dự án rất có hiệu quả.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.