Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Mối quan hệ của ĐTM với các công cụ quản lý môi trường (P1)

Mối quan hệ của ĐTM với các công cụ quản lý môi trường (P1)
Rate this post

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ. Mỗi công cụ có chức năng, khả năng cũng như phạm vi áp dụng khác nhau, nhưng đều có chung mục đích là phát triển bền vững, và duy trì nâng cao chất lượng môi trường. Việc sử dụng các công cụ ở các nước khác nhau cũng khác nhau, có thể một công cụ được áp dụng hiệu quả ở nước này lại tỏ ra kém hiệu quả ở nước khác vì có sự khác nhau về điều kiện kỹ thuật hay đặc điểm xã hội.
Tuy nhiên có thể liệt kê các công cụ cơ bản như sau:
1. Công cụ chính sách, chiến lược
Mỗi quốc gia đều có hệ thống các chính sách, chiến lược phát triển riêng của mình và sử dụng nó như một công cụ để chỉ đạo toàn bộ hoạt động phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Rõ ràng chính sách phát triển có quan hệ mật thiết với chính sách chiến lược bảo vệ môi trường, chính vì vậy chúng ta xét các chính sách, chiến lược này như một thể thống nhất. Các chính sách chiến lược thường được lập cho một thời gian đủ dài, thường 5-10 năm trở lên, được áp dụng trong phạm vi lớn như tỉnh, thành phố, bang hoặc quốc gia. Trong khi chính sách xác định rõ mục tiêu phát triển, bảo vệ môi trường và định hướng hoạt động để thực hiện, thì chiến lược được cụ thể hóa và tìm phương thức, nguồn lực để có thể đạt được các mục tiêu đó. Để chính sách chiến lược có tính khả thi cao, nó phải thực sự phù hợp với điều kiện cụ thể của khu vực. Trong xu thế toàn cầu hóa công tác bảo vệ môi trường hiện nay đã và đang hình thành chính sách, chiến lược ở phạm vi liên quốc gia, châu lục và toàn thế giới.
Việt Nam cũng đã có những chính sách phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Năm 1986, nước ta đã đề xuất Chiến lược quốc gia bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Năm 1993 Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam lần đầu tiên ra đời, kế thừa và phát triển nó là Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã bắt đầu có hiệu lực. Chính phủ đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (hay Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 nãm 2004 của Thủ tướng Chính phủ… Tất cả trở thành công cụ chiến lược để hoạch định chính sách phát triển. Tuy nhiên công cụ chiến lược và chính sách đểu có mối quan hệ hai chiều với ĐTM. Một mặt, ĐTM các dự án cụ thể phải được thực hiện trong khuôn khổ các chính sách và chiến lược, mặt khác các chính sách và chiến lược lại là đối tượng của ĐMC.
2. Công cụ pháp chê
Công cụ này bao gồm các luật quy định, chế định liên quan tới bảo vệ môi trường. Thường thì mỗi quốc gia có một luật chung và các luật liên quan khác như Luật Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, Luật Bảo vệ rừng, Luật Khoáng sản, Luật Đất đai… Quyết định, nghị định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa hoặc hướng dẫn thực hiện các nội dung của luật. Quyết định, nghị định có thể do cơ quan lập pháp hoặc hành pháp ban hành. Chế định là các quy định về chế độ, thể lệ, tổ chức quản lý bảo vệ môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường, 2005, hiện hành của Việt Nam quy định rất rõ trách nhiệm ĐTM đối với các dự án đang và sẽ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Điều 19 của luật này quy định việc lập báo cáo ĐTM, bao gồm 5 khoản mục cụ thể như sau:
– Chủ dự án (các dự án quy định tại điều 18 của luật này) có trách nhiệm lập báo cáo ĐTM trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
– Báo cáo ĐTM phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.
– Chủ dự án tự mình hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM và chịu trách nhiệm về các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo ĐTM.
– Trường hợp có thay đổi vể quy mô, nội dung, thời gian triển khai, thực hiện, hoàn thành dự án thì chủ dự án có trách nhiệm giải trình với cơ quan phê duyệt; trường hợp cần thiết phải lập báo cáo ĐTM bổ sung.
– Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM phải có đủ điều kiện về cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết.
Các Luật Đất đai, Luật Bảo vệ rừng, Luật Khoáng sản,…cung cấp những cơ sở pháp lý cho việc ĐTM đối với các dự án liên quan đến lĩnh vực sử dụng các tài nguyên này.
Một văn bản khác có tầm quan trọng pháp luật được ban hành (ở tất cả các quốc gia và một số tổ chức của thế giới) đó là Tiêu chuẩn môi trường quốc gia. Tiêu chuẩn môi trường rất đa dạng, bao gồm nhiều yếu tố, đại lượng đặc trưng cho chất lượng môi trường buộc phải áp dụng.
Luật Bảo vệ môi trường 2005 của Việt Nam, dành trọn chương II (từ điều 8 đến điều 13) quy định về nguyên tắc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn môi trường, vể nội dung tiêu chuẩn môi trường quốc gia, vể hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia, yêu cầu đối với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh, yêu cầu đối với tiêu chuẩn về chất thải. Ngoài ra còn quy định thẩm quyền, trình tự xây dựng và ban hành, công bố áp dụng tiêu chuẩn môi trường quốc gia phù hợp với quy định của pháp luật về tiêu chuẩn hóa.
Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực hoặc giới hạn cho phép được dùng làm căn cứ để quản lý môi trường. Như vậy, các dự án không được gây tác động tới môi trường vượt các tiêu chuẩn quy định. Ví dụ dự án thải khí độc hại, nhưng nồng độ của chúng ở các khu dân cư không được vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Nước thải, khi đổ vào các thủy vực cũng phải có các chỉ tiêu nằm trong giới hạn cho phép. Tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam đã được ban hành nhưng chưa thật ổn định, tuy nhiên nó vẫn là căn cứ quan trọng để đánh giá tác động của các dự án đến môi trường. Trong những năm sắp tới, dưới ánh sáng của Luật Bảo vệ môi trường 2005, tiêu chuẩn môi trường sẽ được hoàn chỉnh và phù hợp hơn. Như vậy công cụ pháp luật giúp công tác ĐTM trở thành một công việc bắt buộc, đồng thời nó cung cấp cơ sở để tiến hành công tác này thuận lợi hơn. Do đó, khi tiến hành ĐTM nhất thiết phải thu thập và nghiên cứu tất cả các văn bản luật cũng như các quy định, nghị định liên quan.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.