Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Kinh nghiệm các nước trong việc cải cách SNA ( Hệ thống tài khoản quốc gia)

Kinh nghiệm các nước trong việc cải cách SNA ( Hệ thống tài khoản quốc gia)
Rate this post

Costa Rica:
Nước này đã lập ra một hệ thống tài khoản vật chất về đất đai, rừng và thuỷ sản. Sự xuống cấp của rừng và nguồn cá được xác định trên cơ sở giá trị thị trường có thể thu được khi nguồn tài nguyên này được thu hoạch một cách bền vững. Sự xói mòn đất còn được xác định trên cơ sở những chi phí bố sung để thay thế những chất dinh dưỡng chính bị mất đi do xói mòn. Trong khoảng thời gian từ 1970 – 1989 sự xuống cấp của những nguồn tài nguyên này tương đương với 4,1 tỷ USD. Số tiền này tương đương với giá trị trung bình của tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của nước này.
Na Uy:
Nãm 1975, Na Uy bắt đầu thu thập các tài khoản về nguồn tài nguyên vật chất đê’ bổ sung cho các tài khoản thu nhập quốc dân thông thưòng. Những giá trị liên quan đến vốn, sô’ lượng, chất lượng và việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác nhau đã được ghi lại giúp cho việc dự thảo ngân sách sử dụng trong tương lai đối với các nguồn tài nguyên.
Pháp:
Giống như Na Uy, hệ thống các tài khoản hàng đầu của Pháp đã ghi lại những chi phí bò ra cho công tác quản lý nguồn tài nguyên này và nó đã chỉ ra được mối quan hệ tác động qua lại giữa các nguồn tài nguyên và giữa các nguồn tài nguyên với những hoạt động của con người, cũng như những giá trị về mặt xã hội, kinh tế và sinh thái tác động tới những nguồn tài nguyên này.
Inđônêxia:
Ở Inđônêxia, người ta đã tiến hành thống kê các tài khoản vật chất đối với dầu mỏ, gỗ và đất đai. Giá trị cạn kiệt thực tế của những nguồn tài nguyên này được xác định thông qua những biện pháp kinh tế như lấy giá trị thị trường trừ đi toàn bộ phí tổn sản xuất và giá trị cạn kiệt này cũng được khấu trừ từ GDP.
Theo như ước tính thì những phí tổn do những tổn thất vì năng suất (do cạn kiệt các nguồn tài nguyên, hay ảnh hưởng ô nhiễm môi trường) là nguyên nhân gây nên sự suy giảm trong tổng sản phẩm quốc nội. Mức tăng trưởng GDP được điều chỉnh thông qua giá trị cạn kiệt thực tế của các nguồn tài nguyên, môi trường (sau này gọi tắt là mức tăng trưỏng GDP đã được điều chinh) trong khoảng thời gian từ 1971 – 1984 là 4%, trong khi đó mức tăng trưởng GDPbình thường là 7,1%.
Nhật Bản:
Vào năm 1973, hệ thống phúc lợi quốc dân của Nhật Bản được xác định trên cơ sở tổng sản phẩm quốc dân đã được điều chỉnh. Người ta cũng xác định được là những chi phí bỏ ra để làm giảm ô nhiễm môi trường cũng là nhân tố góp phần làm giảm tổng sản phẩm quốc dân . Những chi phí này cũng được coi là những chi phí tiềm năng (mãi mãi phải chi phí) nhằm đáp ứng những tiêu chuấn về môi trường đối với những vấn đề ô nhiễm cụ thể. Vì vậy, giá trị của những hoạt động chi phí thị trường này cũng phải được bổ sung vào GDP.
Mêxicô:
Mexico đã thiết lập những tài khoản quốc gia cho dầu mỏ, rừng, nước ngầm, đất, chất lượng nước và không khí. Bằng cách kết hợp các kỹ thuật định giá mà đã được dùng trong GNP, NDP (NDP- là sản phẩm thực trong nước, nó là GDP đã trừ đi khoản vốn do con người tạo ra) được hiệu chỉnh theo môi trường của Mêxicô vào năm 1985 ước tính bằng 36. 448 triệu peso, trong khi đó nếu tính theo hệ thống thông thường thì là 42.060 triệu peso.
Hà Lan:
Hà Lan đã nhận dạng ra các hoạt động không bền vững hiện có và lập ra tiêu chuẩn môi trường cho các hoạt động đó. Sau đó, những chi phí cho những biện pháp cần thiết vể kỹ thuật, kinh tế và xã hội để đáp ứng các tiêu chuẩn này được khấu trừ trong GNP. Ở Hà Lan, để chuyển 1% các hoạt động không bền vững sang hoạt động bền vững (được tính bằng khối lượng lao động) có thể làm giảm thu nhập quốc dân ít nhất là 1,5% giá trị trung bình. Muốn biết thêm chi tiết về tiếp cận của Hà Lan, xin tham khảo Hueting, 1992.
Papua Tân Ghinê:
Papua Tân Ghinê đã kiểm nghiệm cách tiếp cận SEEA (hệ thống hạch toán kinh tế kết hợp với môi trường quốc gia). Năm 1990, chi phí cho môi trường là 0,31% GDP. Dựa vào cách tiếp cận giá cả thực tế (giá thị trường trừ đi tất cả chi phí sản xuất rồi nhân với số lượng các nguồn tài nguyên bị cạn đi) đối với khoáng chất, dựa vào cách tiếp cận với tính sẵn sàng chấp nhận suy thoái do nông nghiệp và năng lượng, dựa vào cách tiếp cận chi phí phòng tránh cho trường hợp suy thoái do khai mỏ và rừng, NDP được hiệu chỉnh của nãm 1990 là 2.526 triệu kina thay vì 2.760 triệu kina nếu tính theo cách thông thường. Muốn cần biết về chi tiết kỹ thuật xin tham khảo Abaza, 1992.
Phương pháp luận được sử dụng ở Papua Tân Ghinê đã không khấu trừ các chi phí cho môi trường ở GDP vì họ khó nhận được dữ liệu từ các ngành khác và khó xác định đựơc những chi phí nào trong số đó là những chi phí cuối cùng để hạch toán cho đúng. Nước này đã thu thập các tài khoản vật chất cho tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu nhưng không đưa giá trị vào cho các vốn tài nguyên thiên nhiên đã biết. Tuy nhiên mức độ xuống cấp và sự suy thoái của các nguồn tài nguyên này đã được tính toán và khấu trừ ở GDP.
Papua Tân Ghinê đã sử dụng 2 kỹ thuật định giá – cách tiếp cận chi phí của người sử dụng và phương pháp giảm giá. Ở phương pháp thứ nhất, một phần lợi nhuận từ doanh sô’ hiện tại được tính và đưa khỏi GDP và được đầu tư ở dạng “chi phí người sử dụng” mà tập hợp chúng lại có thể sản sinh ra dòng thu nhập bằng phần còn lại của những khoản lợi nhuận hiện tại khi nguồn tài nguyên đang xem xét bị cạn kiệt hoàn toàn. Theo cách tiếp cân này, sự cạn kiệt cúa các nguồn khoáng chất được hạch toán ra là 0,3% đến 1,4% GDP thông thường của Papua Tân Ghinê vào các năm 1985 – 1990.
Khi dùng phương pháp giảm giá, số lượng nguồn bị cạn kiệt nhân với giá thành thực tế (giá thị trường trừ đi toàn bộ chi phí sản xuất) là một chỉ số nói lên khả năng tạo ra thu nhập tiềm tàng của nguồn bị cạn kiệt. Theo phương pháp này, sự xuống cấp các nguồn tài nguyên khoáng chất ở Papua Tân Ghinê là 0.8% đến 7% GDP thông thường của các năm 1985 – 1990.
Để ước tính tốn phí do sự suy thoái chất lượng môi trường gây ra, nên áp dụng cách tiếp cận bù đắp (người gây ô nhiễm trả tiền bù đắp cho người sở hữu nguồn tài nguyên) đối với ngành nâng lượng và nông nghiệp, còn đối với khai mỏ và rừng, nên dùng cách tiếp cận phòng tránh (các chi phí để ngăn ngừa ô nhiễm). Vào các năm 1986 – 1990, tổng chi phí hàng nãm cho sự suy thoái của các nguồn này trung bình là 2% (ước tính ở mức thấp) tới 10,4% (ước tính ở mức cao) của NDP.
Philipin:
Việc ước tính độ suy thoái của rừng và đất được thực hiện giống lnđônêxia và Costa Rica. Từ năm 1970 – 1980, sự suy thoái của rừng là 3,3% GDP, sự thoái hoá của đất đai nông nghiệp ở vùng đất khô là 2,5% GDP.
Hoa Kỳ:
Hoa kỳ đã nỗ lực đầu tư nhằm giảm mức độ ô nhiễm, xây dựng tài khoản quốc gia cho dầu, khí và gỗ. Họ cũng đã thử nghiệm cách tiếp cận bằng cách dùng chi phí phòng tránh cho khu vực vịnh Chesapeake để ước tính chi phí mà người sử dụng nguồn tài nguyên phải chịu nếu họ buộc phải ngừng hoặc giảm mức sử dụng nguồn tài nguyên căn cứ vào mức độ bền vững sinh thái. Hiện tại, Vãn phòng Quan hệ Kinh tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã xây dựng một nguyên mẫu cho các số liệu thu nhập quốc dân được hiệu chinh theo môi trường được đưa ra trước tháng 4 năm 1994.
(Nguồn: Flilai Sheng, Các chi tiêu Kinh tế quốc dân và Phút triển bền vững [13])

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.