Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Khái niệm về chiến lược môi trường đô thị

Khái niệm về chiến lược môi trường đô thị
Rate this post

Chiến lược môi trường đô thị là cốt lõi để xây dựng QHMTĐT, mục tiêu của chiến lược này nhằm bảo vệ môi trường và hướng tới bền vững trong suốt quá trình phát triển của đô thị. Nội dung của nó không chỉ dừng lại giải quyết các vấn đề môi trường đô thị đặt ra, mà còn phải Quy hoạch sắp xếp lại thành một hệ thống bển vững để khai thác tiềm năng môi trường một cách lâu dài cho lợi ích của đô thị.
Vì vậy những vấn đề môi trường đô thị phải được xem xét toàn diện, trên cơ sở đó các chủ đề môi trường được hình thành và xây dựng ở cấp chiến lược.
1. Những vấn đề môi trường gắn với quá trình hoạt động đô thị:
a) Sử dụng đất
Khi mở rộng một khu đô thị thì kéo theo một khu vực sinh cảnh địa lý nào đó bị xâm hại như: thảm thực vật, đồng ruộng hay hệ sinh thái ao hồ bị phá huỷ do bóc mòn lớp phủ hoặc san lấp. Chế độ thuỷ vãn có thể bị thay đổi và vùng đất ngập nước (đầm, hồ) trở nên khô cạn. Độ thấm bề mặt của khu vực giảm đi do được thay bằng lóp phủ đô thị. Công trình xây dựng mọc lên làm hệ thống nước ngầm bị ô nhiễm và cạn kiệt do khai thác sử dụng quá mức…Tất cả dẫn đến các hệ sinh thái có thể bị suy thoái, các chu trình chuyển hoá vật chất mất tính liên tục, chu trình nước biến đổi bất thuận nghịch sẽ xẩy ra… Đương nhiên những tổn thất môi trường là gánh nặng tác động lên hệ sinh thái đô thị. Đặc biệt những ảnh hưởng này sẽ tăng lên gấp bội khi mà tốc độ đô thị hoá diễn ra một cách nhanh chóng và rộng khắp như hiện nay.
Như vậy việc lựa chọn đất đai để phát triển đô thị cho phù hợp là việc làm quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong mục tiêu phát triển bền vững. Thông thường, để giảm bớt sự ảnh hưởng này người ta lựa chọn những vùng đất có đặc trưng sinh thái kém nhạy cảm để phát triển đô thị. Trong các đô thị cũ được xây dựng trước và đầu thế kỷ 20, việc quy hoạch sử dụng đất thường thiếu chuẩn mực do những hạn chế về xã hội cũng như tri thức khoa học, ngày nay người ta tiến hành tái cơ cấu sử dụng đất (rediscovering mixed land use) với mục đích là dự án phát triển phải “tương thích” với đất sử dụng về mặt sinh thái và môi trường.
Để quy hoạch sử dụng đất nói chung và đất đô thị nói riêng được hiệu quả, người ta tiếp cận phương pháp “Quy hoạch hệ sinh thái” hơn là những phương pháp quy hoạch thông thường hiện có. Quy hoạch thông thường (hay gọi là quy hoạch cổ điển) thường dựa trên giá trị thẩm mỹ đơn giản và đặt quá nhiều niềm tin vào sự tăng trưởng, vì cho rằng sự phát triển của các hoạt động kinh tế, dân số và cơ sở hạ tầng (vấn đề định cư đô thị) đều bắt nguồn từ lợi nhuận, mặt trái của quá trình này có thể được hạn chế tới mức thấp nhất bằng các điều chỉnh. Ngược lại, phương pháp “Quy hoạch hệ sinh thái” (Ecosystem Planing) không chỉ dựa vào lợi nhuận, mặc dù các hoạt động của quy hoạch này đều gắn với những kinh tế nhất định, mà còn chỉ ra rằng các phương thức phát triển khác đang lấn át làm thay đổi khả năng chịu đựng của cộng đồng và hệ sinh thái, gây ra những ảnh hưởng xấu tới môi trường, xã hội và kinh tế đến mức nghiêm trọng rất khó khôi phục hoặc không thể bồi hoàn.
Phương pháp “Quy hoạch hệ sinh thái” được xây dựng dựa trên quan điểm sự sống cúa con người phụ thuộc vào thiên nhiên chứ không phải là ngược lại. Trách nhiệm của con người là phải bảo tồn thiên nhiên, phải tôn trọng tính đa dạng, phức tạp cũng như tính có giới hạn và khả năng không ổn định của thiên nhiên. Chất lượng cuộc sống con người hay sức khoẻ của hệ sinh thái đô thị mới là điểu quan trọng nhất để phát triển xã hội và nền kinh tế. Đó cũng là mục tiêu phát triển của thời đại ngày nay.
b) Ô nhiễm chất thải rắn trong đô thị
Một hệ sinh thái đô thị (HSTĐT) bao gồm 3 chức năng, đó là sản xuất đô thị, sinh hoạt đô thị và vui chơi giải trí trong đô thị. Ba chức năng này chúng không tách rời nhau mà liên quan mật thiết với nhau, hậu thuẫn cho nhau tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín gọi là chu trình sinh thái cơ bản của HSTĐT. Chu trình này liên tục hoạt động để tạo ra của cải cho xã hội tiêu dùng và tái phát triển đô thị, nên nó liên hệ hữu cơ với môi trường đô thị (môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo, môi trường xã hội hình thành bên trong và xung quanh đô thị)
Trong HST tự nhiên, vòng tuần hoàn vật chất diễn ra dưới chu trình sinh địa hoá thông qua sự tãng trưởng của hệ (năng suất sinh học hay sinh khối) được thực hiện bằng quy luật tự nhiên. Còn trong HSTĐT sự tăng trưởng của hệ phụ thuộc vào chu trình sinh thái cơ bản của nó, trong đó lấy sản xuất và tiêu dùng làm cơ sở, vì vậy sự chuyển hoá vật chất không dùng lại ở quy luật tự nhiên, mà bị quy luật sản xuất và tiêu dùng chi phối. Do đó, trong HSTĐT vòng chuyển hoá vật chất không diễn ra tuần hoàn và khép kín như HST tự nhiên, mà là một hệ thống mở, vì vậy luôn tồn dư vật chất. Một trong nhũng dạng tồn dư vật chất ấy là chất thải đô thị.
Một đô thị điển hình ngày nay, có sức chứa trung bình vào khoảng một triệu dân, với công nghệ sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật hiện có, thì tối thiểu một ngày đêm tạo ra khoảng 500.000 tấn nước thải sinh hoạt và công nghiệp, 2.000 tấn chất thải rắn và 1.000 tấn khí thải các loại. Điều này vượt quá khả năng chuyển hoá vật chất của môi trường trong khu vực đô thị và vùng lân cận, quá trình tích luỹ ngày một gia tăng dẫn đến nhiều thành phần vật lý và hoá học của môi trường đô thị vượt quá tiêu chuẩn cho phép, gây tổn hại đến sức khoẻ của cư dân đô thị, sức khoẻ HST bị đe doạ.
Ngày nay, khắc phục khủng hoảng này là vấn đề được quan tâm hàng đầu và mang ý nghĩa chiến lược của mỗi đô thị. Hai xu hướng nghiên cứu được quan tâm là: thứ nhất, nâng cao sức tải của môi trường bằng cách duy trì và phục hồi các HST tự nhiên trong đô thị và khu vực làn cận, thông qua’các giải pháp QHXD, thiết kế đô thị và biện pháp quản lý MTĐT. Thứ hai, giảm lượng chất thải đô thị bằng các quy trình công nghệ thân môi trường.
Chất thải rắn trong đô thị được phân làm 3 loại: thứ nhất là rác thải sinh hoạt, bao gồm phân, rác các loại từ các nguồn gia đình, chợ búa, các nơi hoạt động công cộng, các phế thải xây dựng. Trừ phế thải xây dựng thì rác thải sinh hoạt có thành phần chủ yếu là chất hữu cơ. Thứ hai là rác thải công nghiệp, bao gồm các phế thải do quá trình sản xuất công nghiệp tạo ra, vì thế rác thải công nghiệp có bản chất phi hữu cơ và mang theo nhiều hoá chất độc hại, trường hợp đặc biệt của nó là chất thải phóng xạ. Thứ ba là rác thải bệnh viện, bao gồm rác thải trong quá trình chữa bệnh như băng gạc, bơm tiêm…đến các bệnh phẩm, có khả năng lây nhiễm dịch bệnh. Thành phần của rác thải đô thị rất đa dạng và phức tạp, muốn xử lý được rác thải thì khâu phân loại rác là rất quan trọng và được tiến hành ngay từ lúc thu gom. Do tính chất các loại rác thải rất khác nhau như vậy, nên mỗi loại cần phải có những phương pháp xử lý thích hợp, đảm bảo không gây tổn hại tới môi trường.
Việc xử lý rác thải sinh hoạt chủ yếu dựa trên 2 nguyên lý sau: Nguyên lý loại trừ (giải quyết theo yêu cầu môi trường) và nguyên lý sử dụng lại (giải quyết theo yêu cầu kinh tế). Việc áp dụng nguyên lý này hay nguyên lý kia là phụ thuộc vào yêu cầu đòi hỏi cũng như khả năng lựa chọn công nghệ quyết định. Trên cơ sở các nguyên lý này, người ta đưa ra các phương pháp xử lý sau:
+ Phương pháp sinh học ( ủ hiếu khí hoặc yếm khí để xử lý các rác thải hữu cơ nhờ vi sinh vật).
+ Phương pháp thuỷ phân (chưng cất rác thải không có không khí).
+ Phương pháp cơ học: (nghiền, ép nén)

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.