Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Khái niệm về chiến lược môi trường đô thị (P2)

Khái niệm về chiến lược môi trường đô thị (P2)
Rate this post

Việc chọn biện pháp xử lý rác thải do sinh hoạt phải dựa trên các điều kiện cụ thể của địa phương và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác. Hiện nay người ta thường dùng các biện pháp sinh học sau đây để xử lý rác thải: xử lý hiếu khí trong nhà máy, hoặc ủ hiếu khí tại bãi tập trung, tích trữ và ủ yếm khí tại các polygon.
Có thể xem việc xử lý phế thải rắn sinh hoạt là giai đoạn cuối cùng của công tác vệ sinh môi trường đô thị. Đây là một quá trình tổng hợp bao gồm thu gom, vận chuyển, tập trung và xử lý chế biến. Tất cả các khâu đểu quan trọng như nhau, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác vệ sinh môi trường. Đặc biệt việc phân loại từ khâu thu gom mang ý nghĩa quyết định.
Với rác thải công nghiệp, việc xử lý mang tính đa dạng và phải thận trọng hơn nhiều, nếu không có thể gây ra những hậu quả nặng nề cho môi trường. Việc xử lý bằng chôn ủ trong các polygon đặc biệt, hay nung đốt trong lò nhiệt độ cao, cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
+ Trung hoà hoặc khử độc đối với những rác thải độc hại bằng hoá chất thích hợp hoặc phân huỷ ở nhiệt độ cao mà kết quả sản phẩm và quá trình xử lý an toàn cho môi trường.
+ Rác thải phóng xạ và nhiễm phóng xạ thực hiện chôn cất an toàn và nằm trong tầm kiểm soát thường xuyên.
Ngày nay nguyên lý sử dụng lại phế thải rắn là xu hướng nghiên cứu được quan tâm. Xu hướng này là một trong những chiến lược công nghệ sạch, nó có ý nghĩa tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường tiến tới mục tiêu phát triển bền vững. Tại Mỹ hàng năm có khoảng 134.106 tấn phế thải rắn công nghiệp thì chứa tới ll,3.106tấn sắt, 0,86.106 tấn nhôm, 0,43.106 tấn kim loại khác, 13.106 tấn thuỷ tinh, trên 60.106 tấn giấy. Nếu đốt khối lượng rác này sẽ thu được một nhiệt lượng tương đương đốt 20.106 tấn dầu mỏ. Hiện nay trong quá trình xử lý một số loại rác, người ta đã thu được nhiên liệu lỏng, than cốc, metanol, amoniac, ure, cồn etilic và các loại vật liệu xây dựng hoặc ứng dụng nguyên lý pin axit đế thu điện năng.
Để chống ô nhiễm môi trường đất, không khí và các nguồn nước mặt, nước ngầm, việc xử lý chất thải rắn phải đảm bảo nghiêm ngặt tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình công nghệ đặt ra. Vì thế không thể giải quyết vấn đề rác thải theo kiểu manh mún, mà phải có tính tập trung cao, có Quy hoạch rõ ràng, cụ thể, chính xác, tạo cơ hội tập trung nguồn lực tối đa thì mới giải quyết tốt được, đặc biệt theo xu hướng “sử dụng lại” làm nguyên liệu thứ cấp cho công nghiệp.
Với rác thải bệnh viện, hiện nay thường sử dụng phương pháp đốt là chủ yếu. Phương pháp này có thể làm ô nhiễm môi trường không khí song đơn giản dễ làm và khối lượng ít. Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây chỉ ra một hướng mới là làm tiệt trùng rác thải bệnh viện bằng hệ thống thiết bị chuyên dụng, sau đó xử lý cùng rác thải sinh hoạt.
c) Ô nhiễm nước và vệ sinh nguồn nước trong đô thị
Đô thị là nơi tập trung mọi hoạt động nên lượng nước sử dụng hàng ngày rất lớn, đáp ứng cho các yêu cầu cơ bản sau đây: (1) Cho sản xuất công nghiệp, (2) Cho sinh hoạt đô thị, (3) Phòng cháy chữa cháy, (4) Làm vệ sinh đường sá.
Tùy theo mức độ yêu cầu có thể dùng các loại nước cấp với chất lượng khác nhau, nhưng nói chung dù dùng vào mục đích gì cũng phải là nước sạch, nếu không sản phẩm công nghiệp sẽ kém chất lượng, hệ thống cấp nước và thiết bị chuyên dụng sẽ dễ bị phá hỏng vì nước không sạch gây ra ăn mòn, cặn lắng, và mất vệ sinh môi trường.
Cấp nước trong đô thị nước ta, về chất lượng được quy định theo tiêu chuẩn TCVN 51 -72 của Nhà nước ban hành, trong đó quy định thành phần tạp chất cho phép trong nước và thành phần vi khuẩn, vi trùng gây bệnh cho con người (tả, lỵ, các vi khuẩn gây bệnh tiêu hoá…)
Tính riêng nước sạch sinh hoạt hàng ngày trong gia đình, để thoả mãn yêu cầu tối thiểu cũng phải là 70 – 100 lít/người.ngày (ả Mỹ 380-500 lít/người ngày, Pháp 200-500 lít/người ngày, Singapo 250 – 400 lít/người ngày). Trong các đô thị ở nước ta, số dân đô thị được cấp nước sạch mới khoảng 70%, đặc biệt ở một số đô thị chỉ mới có 30- 40% dân cư được sử dụng nước sạch của hệ thống cấp nước đô thị, còn lại dùng nước giếng khoan hoặc giếng khơi tuỳ thuộc vào điểu kiện thuận lợi của từng khu vực. Để đảm bảo đủ nước cung cấp cho đô thị, thường phải dùng cả nguồn nước ngầm lẫn nguồn nước mặt của những hê thông sông lớn chạy qua. Muốn có đủ nước và nước có chất lượng tốt thì phải giữ cho nguồn nước được trong sạch không bị ô nhiễm. Đây là điều rất khó khăn trong các đô thị. dãc biệt là các đô thị lớn. Lý do ô nhiễm nước mặt là do nước thải đô thị có lương chât bấn lớn

 

Có nhiều chất thái trong đô thị là nguồn gốc gây ô nhiễm nước, chúng là các chất tồn dư nguồn gốc nước được tạo ra dưới hai dạng nguồn điểm và nguồn phân tán. Nguồn điểm là các nguồn thải trực tiếp vào môi trường nước từ cống xả của các nhà máy công nghiệp hay cống rãnh thành phố. Nguồn phân tán bao gồm các yếu tố tác động đưa vào dòng chẩy sông, rạch, mương, hồ và nước ngầm thông qua dòng rửa trôi trên bề mặt đô thị và quá trình thấm hút. Vì vậy một bãi xử lý chất thải rắn không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, hay một bãi đỗ xe… cũng trở thành nguồn ô nhiễm nước.
Do đó tính chất ô nhiễm nước trong các khu vực đô thị khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm phát triển và hình thái địa lý của khu vực đô thị đó. Song mức độ ánh hưởng của nó tới môi trường nước phụ thuộc vào mức độ xử lý trước khi xả thải và vào dung lượng thuỷ vực có thể pha loãng. Để dễ nhận biết trong xử lý, người ta thường
chia ra dòng thải công nghiệp và dòng thải sinh hoạt.
+ Dòng thải sinh hoạt chứa đa phần là chất hữu cơ có khả năng phân huỷ được, nhưng lại làm hỏng hệ sinh thái thuỷ sinh vì tăng quá mức độ phú dưỡng trong nước. Chúng làm cho các loài tảo ở đây phát triển quá mức (gọi là hiện tượng nước nở hoa). Do sinh vật tiêu thụ trong hệ sinh thái thủy sinh không tiêu thụ kịp nên khi tảo chết đi chúng sẽ bị phân huỷ và giải phóng ra độc tố, gây ra hiện tượng thiếu oxy trong nước (chỉ số BOD và COD lớn) làm ảnh hưởng mạnh đến sự sống của sinh vật nước và dẫn đến hệ sinh thái sông hồ đô thị mất cân bằng. Quá trình này kéo dài dẫn đến thành phần sinh vật nước bị chết, các chất hữu cơ không được sinh vật tiêu thụ, tiếp tục phân huỷ do thối rữa nên nước trở thành hôi thối, biến thành nơi cư trú của các loại vi trùng, các yếu tố gây bệnh, các ký sinh trùng đe doạ sức khoẻ cộng đồng đô thị.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.