Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Đặc trưng môi trường của các vùng sinh thái Việt Nam (P2)

Đặc trưng môi trường của các vùng sinh thái Việt Nam (P2)
Rate this post

3. Vùng núi
+ Tiềm năng và cơ hội:
Độ che phủ rừng là thước đo độ an toàn sinh thái ở vùng núi. Rừng có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong điều hoà khí hậu, dòng chảy, hạn chế hạn hán, chuyển đổi nước mặt thành nước ngầm, chống xói mòn và hạn chế lũ lụt sông, suối, hạn chế tác hại của gió bão.
Do ảnh hưởng của độ cao, vùng núi nhìn chung có khí hậu mát mẻ và ẩm. Ở một sô vùng núi cao có thể Quy hoạch phát triển các hệ sinh thái ôn đới. Ngoài ra còn có tính đa dạng sinh học cao với nhiều nguồn gen quý hiếm, có ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học và kinh tế.
Địa hình vùng núi phân cắt mạnh, đất nông nghiệp phân tán giúp ngăn chặn sự lan truyền của dịch hại cây trồng, tạo điều kiện phát triển nông sản sạch với chất lượng cao. Địa hình phong phú, có điều kiện để phát triển các công trình thuỷ điện. Tính đa dạng vãn hoá mang đậm bản sắc dân tộc, với truyền thống lễ hội và tri thức bản địa giàu có. Tất cả đồng thời tạo nên nền tảng để phát triển du lịch sinh thái.
Tài nguyên khoáng sản phong phú, nhiều loại hình là tiềm nãng cho phát triển kinh tế.
+ Nguy cơ và khắc phục:
Suy thoái tài nguyên rừng và các hậu quả
Theo số liệu năm 1999, diện tích che phủ rừng ước tính chỉ còn 23% diện tích toàn quốc (theo tiêu chuẩn an toàn về môi trường phải đạt > 45%). Hiện nay do sức ép dân số ở một số vùng núi (đặc biệt là ở vùng Tây Nguyên) gia tăng phá rừng làm nương rẫy. Diện tích rừng bị thu hẹp ngày càng rõ rệt, làm giảm bớt khả năng phòng hộ bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, điểu hoà khí hậu và bảo vệ các dịch vụ sinh thái.
Suy thoái tài nguyên đất dưới điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và tập trung, diện tích rừng ngày càng giảm đã hình thành các dòng chảy bề mặt gây xói mòn, rửa trôi. Tài nguyên đất bị phá huỷ do mất mát các vật chất hữu cơ và chất màu dẫn tới gia tăng đất trống đồi núi trọc.
Suy thoái nguồn nước xảy ra khi thảm thực vật bị tàn phá, đất bị xói mòn và rửa trôi từ đồi núi chảy về sông suối, gây ô nhiễm cho các nguồn nước, độ đục của các dòng sông tăng cao và gây bồi lắng. Mặt khác, lượng bùn cát theo các sông lắng lại trong các hồ chứa, bồi lấp các công trình thuỷ nông và thủy điện.
Suy thoái đa dạng sinh học xảy ra ở các vùng núi vốn có tài nguyên động, thực vật rất phong phú, khiến cho đến nay đã mất dần nhiều giống loài do:
+ Phá rừng lấy gỗ và phát triển nông nghiệp
+ Săn bắn quá mức trong đó có buôn bán động thực vật hoang dã
+ Nhập nội các loài động thực vật có ưu thế cạnh tranh gây huỷ diệt các loài bản địa.
+ Gia tăng các tai biến môi trường xẩy ra khi lụt trên diện rộng và lũ quét gây ra các thiệt hại cho các công trình thuỷ lợi, làng bản xuất hiện các sự cố trượt lở nguy hại.
0 nhiễm môi trường do các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp
Các khu công nghiệp ở miền núi chưa phát triển và chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế. Hoạt động công nghiệp chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến và tiểu thủ công nghiệp. Nhưng trình độ công nghệ lạc hậu, nên là nguồn gây ô nhiễm môi trường lớn. Tài nguyên khoáng sản đang bị lãng phí, diện tích rừng và đất canh tác đang bị mất đi.
Với xu thế chung của xã hội, quá trình đô thị hoá các tỉnh miền núi diễn ra khá mạnh trong điều kiện thiếu hụt đầu tư nghiên cứu mởi trường cơ bản đã làm gia tãng các vùng đất trống, đồi trọc và tạo ra nhiều tiềm ẩn tai biến môi trường (như gây ra các hiện tượng xói mòn, nguy cơ gây trợt lở đất do mưa lũ hay lũ quét rất khó lường). Cùng với việc tăng nhanh dân số ở đô thị vùng núi là việc tăng nhanh về khối lượng chất thải nhưng lại thiếu đầu tư về kinh tế kỹ thuật nên đã gây nên những ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Hệ thống cấp, thoát nước không đáp ứng được nhu cầu vệ sinh môi trường, nước thải công nghiệp và sinh hoạt không được xử lý triệt để, không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường khu vực, mà còn tới cả các khu vực hạ lưu.
Đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên bị phá hoại do ảnh hưởng của các hoạt động khai thác công nghiệp và đô thị hoá. Đặc biệt là các thảm thực vật vùng núi đá bị bóc nham nhở phải mất hàng trăm năm mới có thể hoàn nguyên.
Việc sử dụng các chất bảo vệ thực vật chưa đúng quy trình đã gây ô nhiễm đất, nước và cuối cùng gày ô nhiễm thông qua chuỗi thức ăn. Bên cạnh đó nhiều vùng vẫn còn bị ảnh hướng nặng nề của chất độc hoá học do chiến tranh để lại.
Các vấn đề môi trường xã hội: Vấn đề xã hội là kết quả của cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật nghèo nàn, mức sống thấp, phong tục tập quán lạc hậu và tỷ lệ mù chữ cao ở một số vùng. Những trở ngại này đã hạn chế tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá của xã hội. Việc cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường bị hạn chế và đang đe doạ sức khoẻ và môi trường của cộng đồng, làm giảm sức sản xuất và chất lượng của cuộc sống.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.