Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Công nghiệp hoá chất và sử dụng hoá chất

Công nghiệp hoá chất và sử dụng hoá chất
Rate this post

Sau khai thác tài nguyên thiên nhiên, con người tiến hành các hoạt động công nghiệp tạo ra sản phẩm phục vụ trực tiếp đời sống thiết thực của con người, đồng thời còn tạo ra những sản phẩm phục vụ sản xuất cũng như thúc đẩy quá trình khai thác tài nguyên tiếp theo. Quá trình hoạt động này đã gây tổn hại không nhỏ cho môi trường mà còn để lại những di chứng nặng nề.
Công nghiệp hóa chất cũng như việc sử dụng hóa chất trong các ngành công nghiệp chiếm một tỷ trọng ảnh hưởng đáng kể đến môi trường, bởi vì các chất hóa học có dặc
tính là dễ thâm nhập nhất, khó phân hủy để lại những dư lượng trong môi trường đất, nước và khí.
Ngành hóa chất và phân bón có đặc trưng là thải vào khí quyển rất nhiều chủng loại chất độc hại ở dạng khí và dạng rắn (bụi), trong đó có cả axit nitơ, sunfua dioxit. Một điều đáng chú ý là phần lớn các chất thải của nhà máy hóa chất có đặc trưng là đẳng nhiệt nên nhiệt độ khí thải ít chênh lệch với nhiệt độ không khí xung quanh, vì vậy nó bay đi không xa và thường tập trung ở gần nguồn gây nên nồng độ đậm đặc nguy hiểm. Thiết bị sản xuất lại thường lộ thiên hoặc bán lộ thiên một số công đoạn sản xuất để ngoài trời, cùng với sự rò rỉ của đường ống hoặc thiết bị thiếu độ kín là nguyên nhân làm tăng nồng độ chất độc trong không khí thuộc khu vực trong và ngoài nhà máy.
Trong nông nghiệp, việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc kích thích sinh trưởng một cách rộng rãi để nâng cao sản lượng cây trồng, nhưng mặt trái của nó là làm ô nhiễm đất và nước. Thông thường tùy loại cây trồng mà chúng có khả năng hấp thụ lượng phân bón khác nhau: cây trồng cạn thì hấp thụ được khoảng 60%, lúa nước 20 – 30%, phần còn lại chuyển thành chất ô nhiễm môi trường nước, tích lũy trong đất và di chuyển vào khí quyển. Thí dụ: với đất trồng lúa, Nitơ của các loại phân đạm mà cây không sử dụng hết sẽ chuyển thành NO 3 , NH l , NO 2, Nitơ hữu cơ và Nitơ ở dạng chất
lơ lửng tồn tại trong nước, làm thay đổi tính chất của đất như chua đất, giết hại các sinh vật đất có ích. Mặt khác chúng trở thành cấu tử của đất chuyển hóa qua vòng tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái thâm nhập vào thành phần lúa gạo, các vật nuôi và cuối cùng là con người. Thuốc kích thích sinh trưởng là một dạng phân vi lượng nhằm cung cấp cho cây trồng những thiếu hụt yếu tố vi lượng của đất, nhưng luôn luôn để lại những dư lượng thừa gây nên ô nhiễm. Với phân lân (P) và Kali (K) hiện tượng cũng xảy ra tương tự. Đặc biệt dùng thuốc bảo vệ thực vật (còn gọi là thuốc trừ dịch hại: trừ sâu, trừ nấm, trừ vi khuán, trừ cỏ, trừ rong tảo) gây độc hại môi trường rất lớn. Chúng được hình thành từ ba nhóm cơ bản: Nhóm Clo hữu cơ gồm các hợp chất hóa học gốc C1 rất bền vững trong môi trường tự nhiên với thời gian phân hủy dài, thuộc nhóm này có Aldrin, Diedrin, DDT, Heptachlor, Lindane, Epoxide, Endrin, v.v. Nhóm lân hữu cơ bao gồm hai hợp chất Parathion và Malathion tuy có thời gian bán phân hủy ngắn nhưng có độ độc cao với người và động vật, mặt khác nó còn ngăn cản sự hình thành men cholinestraza của côn trùng làm chúng giảm khả năng hoạt động hoặc chết. Nhóm cacbamat gồm các hóa chất ít bền vững nhưng cũng rất độc, đại diện cho nhóm này là các hợp chất gốc cacbamat như Sevin, Puradan, Bassa, Mipcin, chúng tác động trực tiếp vào menlinestraza của hệ thần kinh côn trùng. Để hạn chế ô nhiễm đất trong quá trình canh tác, xu hướng của phát triển nông nghiệp bền vững là hạn chế sử dụng phân hóa học, thay vào đó là phân vi sinh tạo điều kiện cho sinh vật đất hoạt động và phát triển, giảm dần và đi đến chấm dứt việc dùng thuốc trừ dịch hại, chuyển sang phương pháp quản lý sinh học trên đồng ruộng. Để thay đổi một tập tục canh tác chúng ta cần có thời
gian, nhưng trước mắt để tránh gây những hậu quả nghiêm trọng, người ta phải quy định dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật tối đa cho phép trong đất, làm tiêu chuẩn phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên đất và quản lý môi trường.
Một số lớn ngành công nghiệp dùng các loại hóa chất để làm chất tẩy rửa như cơ khí, giấy, tuyển quặng… đã làm ô nhiễm môi trường qua hệ thống nước thải, rồi thâm nhập vào đất và không khí. Thí dụ theo số liệu điều tra trước đây tính cho khu công nghiệp Bãi Bằng – Việt Trì – Lâm Thao cho biết hàng năm có tới 100 tấn axit Sunfuaric và 300 tấn axit Nitơric thải ra môi trường theo nước thải. Trong lịch sử phát triển còn cho thấy một số tai biến môi trường lớn do sự cố cháy, nổ các nhà máy hóa chất như ở Ân Độ, Bhopal, Đức gây thiệt hại không nhỏ cho môi trường và con người.
2. Đốt nhiên liệu trong công nghiệp, giao thông và đời sống
Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong công nghiệp, giao thông và đời sống đểu có nguồn gốc từ năng lượng hóa thạch như than, xăng dầu, khí ga, năng lượng sinh học nằm trong sinh khối (gỗ củi, biogaz). Quá trình cháy chúng thải vào môi trường không khí dưới dạng khí thải và bụi, kết quả làm thay đổi quan trọng thành phần không khí, cũng như xuất hiện những thành phần chất khí có hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sống, không khí không còn “sạch” nữa, đôi khi có mùi và giảm độ trong suốt, hạn chế tầm nhìn.
Quá trình đốt nhiên liệu sinh ra các loại bụi và khí thải nguy hại như co 2, co, S02, SO3, NOx, CH… Theo kết quả điều tra của Thế giới trình bầy trong bảng 1.9 dưới đây cho thấy việc sử dụng nhiên liệu ở tất cả các loại hình hoạt động, hàng nãm đã phát vào khí quyển một lượng khổng lồ lên đến hàng trăm triệu tấn khí thải và hàng chục triệu tấn bụi các loại.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.