Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Cân bằng sinh thái (P2)

Cân bằng sinh thái (P2)
Rate this post

Thông thường, các NTST tác động tới một quần thể sinh vật theo các quy luật cơ bản sau đây:
– Quy luật giới hạn sinh thái:
Mỗi loài có một giới hạn đặc trưng về mỗi NTST nhất định (như nhiệt độ, độ ấm hay bức xạ Mặt trời…). NTST giới hạn là nhân tố tác động đến sinh vật có cường độ đi từ điểm cực tiểu (min) qua điểm cực thuận (opt) đến điểm cực đại (max). Dải cường độ của một NTST mà ớ dó cơ thể chịu đựng được gọi là “biên độ sinh thái” của sinh vật đó (một dải rộng có cường độ đi từ min đến max). Những loài khác nhau có giới hạn sinh thái và điếm cực thuận khác nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tô’ như tuổi của cá thể, trạng thái cơ thể…
– Quy luật tác động tổng hợp của các NTST:
Tất cả các nhân tố sinh thái đều gắn bó chặt chẽ với nhau thành “tổ hợp sinh thái”, đồng tác động lên cơ thể sinh vật. Vì vậy mỗi NTST chỉ có thể biểu hiện hoàn toàn tác động của nó đến đời sống sinh vật khi mà các NTST khác cũng ở trong điều kiện thích hợp.
Ví dụ: Trong đất có nhiều chất dinh dưỡng, nhưng cây trồng chỉ chuyển hoá được các chất này khi có độ ẩm thích hợp và đủ NLMT. Ngược lại mặc dù đủ NLMT nhưng khả nãng quang hợp của nó sẽ kém nếu đất thiếu chất dinh dưỡng hay độ ẩm không thích hợp.
– Quy luật tác động không đồng đều của NTST:
Mỗi NTST có ảnh hưởng khác nhau lên các chức năng của cơ thể sinh vật, nó có thê là cực thuận lợi đối với quá trình này nhưng lại có hại hay nguy hiểm cho quá trình khác. Ví dụ như nhiệt độ không khí ở 40 – 45°c làm tăng quá trình trao đổi chất ở động vật máu lạnh, nhưng lại làm con vật bị đờ đẫn khó thoát thân khi bị vồ mồi.
– Quy luật tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường:
Các NTST tác động thường xuyên lên cơ thê sinh vật làm chúng không ngừng biến đổi, ngược lại sinh vật cũng tác động làm cải biến môi trường, có khi tới mức làm thay đổi cả tính chất của một NTST nào đó. (Ví dụ trồng mới và bảo vệ rừng làm cải thiện đáng kể điều kiện sinh thái như cải thiện nguồn nước, duy trì hệ nước mặt, nước ngầm, tăng độ phì nhiêu của đất, hạn chế xói mòn, làm giảm sâu hại…)
Con người thực hiện mục đích phát triển của mình, nhưng một đòi hỏi đặt ra là con người không được gây tổn hại tới môi trường quá giới hạn sinh thái, bởi vì khi quá giới hạn này cân bằng của hệ sinh thái sẽ bị phá hủy và gây nên những tổn thất khó lường. Cũng chính vì thế mà người ta nói rằng cân bằng sinh thái là nguyên lý sinh thái cơ bản được vận dụng vào việc bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Nhiệm vụ và mục đích của sinh thái học là tìm ra những quy luật về mối quan hệ tương hỗ giữa các cá thể trong một loài, giữa các loài với nhau và giữa sinh vật với MTXQ, trên cơ sớ đó dựa vào các phương pháp, các kỹ thuật của các khoa học liên ngành để phát hiện và quyết định những biện pháp có hiệu quả nhất để sử dụng hợp lý các nguồn lực thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường, nâng cao năng suất sinh học của các HST… Đây là một vấn đề có ý nghĩa sống còn của loài người trong bối cảnh khi mà dân số tăng nhanh, sức ép tài nguyên môi trường ngày một lớn, hoạt động công nghiệp với mọi quy mô và rộng khắp đã là nguyên nhân gây ra khủng hoảng môi trường ở tình trạng báo động như hiện nay. Việc quản lý nguồn lợi thiên nhiên một cách hợp lý không chí bao gồm việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, các quy trình công nghệ để chống suy thoái bảo vệ môi trường, nâng cao sức sản xuất của các HST mà còn phải gắn các biện pháp cụ thể ấy vào mục tiêu và kế hoạch của chiến lược bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở mỗi quốc gia. Nội dung chủ yếu của nó là:
– Duy trì các quá trình sinh thái chủ yếu và những hệ thống bảo tồn sự sống (như tái sinh bảo vệ đất, duy trì tổng thể chất lượng môi trường);
– Duy trì tính đa dạng di truyền của sinh vật;
– Đảm bảo việc sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên thiên nhiên;
– Duy trì cân bằng giữa dân số với điều kiện sản xuất xã hội.

 

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.