Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Cách tiếp cận SUSA (P2)

Cách tiếp cận SUSA (P2)
Rate this post

Cách tiếp cận SUSA đã được sử dụng phát triển và thử nghiệm cho 4 phương pháp nhàm đánh giá sự bền vũng, đó là:
Phương pháp Khí áp kế bền vững.
Phương pháp Lập bản đồ đánh giá nhanh sự bền vững.
Phương pháp Đánh giá và Quy hoạch sự bền vững của nông thôn.
Phương pháp Đặt ra các câu hỏi về sự tồn tại.
• Khí áp kế về sự bển vững
Là phương pháp dùng để đánh giá phúc lợi con người và phúc lợi hệ sinh thái và là công cụ để tổng hợp và nêu bật các kết quả trong một chỉ sô bền vững (hoặc phúc lợi chung). Khí áp kế bền vững cung cấp một phương pháp hệ thống để tổ chức và kết hợp các chỉ tiêu lại với nhau sao cho người dùng có thể rút ra những kết luận về điều kiện của con người và hệ sinh thái, về ảnh hưởng của các mối tương tác giữa con người và hệ sinh thái. Phương pháp này trình bầy những kết luận đó bằng hình ảnh, giúp cho tất cả mỗi người, từ dân làng đến các vị đứng đầu nhà nước tức khắc thấy được bức tranh họ đang ở đâu và đang đi tới đâu.
Khí áp kế kết hợp các chỉ số phúc lợi hệ sinh thái và phúc lợi con người vào thành một chỉ số về sự bền vững mà không làm cho cái này đối địch với cái kia. Phương pháp có thể ứng dụng ở tất cả các cấp: địa phương, tỉnh, quốc gia hoặc quốc tế.
Việc kết hợp các chỉ tiêu thành những chỉ số được thực hiện thông qua sự phân cấp. Ví dụ như việc đánh giá HST và Hệ con người thông qua các chỉ thị và chỉ tiêu phản ánh như sau:

Cách tiếp cận SUSA (P2) 1

Các phương diện đánh giá hệ sinh thái cũng được tiến hành như trong các phương pháp của các cách tiếp cận khác. Bốn phương diện của hệ sinh thái được xây dựng trên cơ sớ bảo tồn sinh thái nêu trong “Chiến lược Bảo tồn Thế giới” (IUCN/UNEP/WWF 1980) và “Chăm lo cho Trái đất” (IUCN/UNEP/WWF 1991). Đó là:
+ Tính tự nhiên hoặc chuyển hoá: Tạo khả năng nhận biết phạm vi và tốc độ tác động chung của xã hội đối với hệ sinh thái, cả bên trong và bên ngoài lãnh thổ. Các bộ phận trong lãnh thổ gồm tự nhiên, cải biến (có tác động một phần của con người), nuôi trồng hoặc xây dựng cho thấy xã hội đã chiếm giữ được bao nhiêu thứ của hệ thống tạo nguồn sống cho hành tinh (hoặc quốc gia hay vùng) để dùng trực tiếp cho bản thân mình, và nó còn dành lại bao nhiêu cho con người và cho những cái còn lại của cuộc sống.
+ Chất lượng hệ sinh thái: Liên quan đến điều kiện chung của không khí, nước và đất đai, kể cả việc sử dựng hệ sinh thái làm nơi chứa đựng phế thải. Nó bao hàm vấn đề năng suất, ô nhiễm và xuống cấp.

Hệ sinh thái

Cách tiếp cận SUSA (P2) 1

Hình 5.4. Khí áp kế đo sự bền vững (Prescott – Allen 1995) [13]
+ Đa dạng sinh học,- Xem xét xem liệu chúng ta duy trì hay làm giảm đi sự đa dạng của các cộng đồng sinh thái, các loài hoang dã và các khác biệt về gen, chẳng hạn như các loại cây trồng, các giống vật nuôi và các quần thể hoang dã.
+ Sử dụng tài nguyên: Đề cập đến việc sử dụng hệ sinh thái làm nguồn của cải, cả những loại tái tạo được (như gỗ, cá, cỏ, loài hoang dã, đất, nước) và các loại không tái tạo được (như khoáng chất, dầu mỏ, khí đốt, than).
Các phương diện đánh giá hệ con người được xây dựng nên từ các chỉ tiêu phát triển con người nêu ra trong “Báo cáo về Phát triển Con người” (UNDP 1990 và những năm tiếp sau). Những phương diện đó là:
+ Sức khoẻ dân số: Gồm khả năng sinh sản, tỷ lệ tử vong, bệnh tật, thực phẩm và dinh dưỡng, công tác sức khoẻ, dịch vụ y tế, sống khoẻ và sống thọ tăng thêm cơ hội cho con người theo đuổi mục đích và phát triển năng lực.
+ Của cải và sinh kế: Xét đến thu nhập, việc làm, nhà ở, vận tải, cơ sớ hạ tầng, công nghệ và những hàng hoá khác giúp cho con người tồn tại hoặc tăng cường các cơ hội và tạo phương tiện khai thác chúng.
+ Tri thức: Bao gồm giáo dục chính quy và không chính quy, nghiên cứu và thông tin. Tri thức giúp cho các cá nhàn, tổ chức và xã hội thực hiện được tiềm năng của mình tâng hiểu biết về hệ sinh thái và hệ thống con người, phát triển kỹ năng và thông tin cần thiết để sống bền vững.
+ Hành vi và thể chế: Đề cập đến hành vi và thể chế ở nghĩa rộng nhất bao gồm các giá trị, phong tục, luật pháp, các khuyến khích và tổ chức giúp cho xã hội có khả nãng quản lý được các mối quan hệ của con người với nhau và với hệ sinh thái.
Những vấn đề mang tính chất chỉ dẫn có phạm vi rất rộng, nhưng không phải lúc nào cũng ứng dụng được. Các ví dụ về vấn đề này gồm chất lượng nước, sự đa dạng của các loài, việc làm, mâu thuẫn và bạo lực. Sự lựa chọn vấn đề sẽ phụ thuộc vào việc mọi người thấy phương diện nào là rõ ràng nhất, những vấn đề nào là liên quan nhiều nhất tới con người (cũng phải thừa nhận rằng những vấn đề khác nhau ít nhiều đều có quan hệ đến những nhóm quyền lợi khác nhau trong xã hội) và những chỉ tiêu có thể phát triển cho những vấn đề nào.
Các chỉ tiêu có tính đặc thù đối với hoàn cảnh và do người dùng chọn lựa. Ví dụ về các chỉ tiêu gồm mức độ coli trong phân, số các loài bị đe doạ, tỷ lệ thất nghiệp, số tội phạm trên 100.000 người dân… Việc lựa chọn các chỉ tiêu phụ thuộc vào việc mọi người thấy vấn đề nào là rõ nhất và vào dữ liệu có thể nhận được. Càng có nhiều chỉ tiêu cho một vấn đề bao nhiêu thì chúng sẽ càng trung lập với nhau hơn. Theo kinh nghiệm, đối với mỗi vấn đề nên có tối đa là 4 chỉ tiêu (thường thì một hoặc hai chỉ tiêu cho một vấn đề là đủ). Những đề xuất này chỉ áp dụng cho những chỉ tiêu dùng để tính toán các chỉ số của Khí áp kế về phúc lợi con người và phúc lợi hệ sinh thái. Có thể thu thập thêm chỉ tiêu bổ sung để hoàn thiện việc phân tích các vấn đề.
Khi kết hợp nhiều chỉ tiêu khác nhau thành một bức tranh tổng quát đòi hỏi phải tổ hợp hoặc gắn kết các chỉ tiêu thành từng cấp từ dưới lên trên: từ các chỉ tiêu cho tới các vấn đề mang tính chỉ dẫn; từ những vấn đề chỉ dẫn đến các phương diện và từ các phương diện đến các hệ thống.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.