Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Các vấn đề môi trường chủ yếu còn tồn tại trong hệ thống đô thị nước ta

Các vấn đề môi trường chủ yếu còn tồn tại trong hệ thống đô thị nước ta
Rate this post

– Cơ sở kinh tế kỹ thuật là động lực phát triển các đô thị còn yếu, tãng trưởng kinh tế chưa cân đối với tăng trưởng dân số.
+ Trong thời gian qua tăng trưởng kinh tế đô thị trung bình hàng năm ở mức 13-15%, mỗi nãm đã giải quyết việc làm cho 1 triệu lao động, nhưng hai ngành dịch vụ và công nghiệp là động lực chủ yếu cho phát triển đô thị mới chỉ thu hút được 27,7% tổng số lao động xã hội.
+ Dân số của các thành phố lớn tăng nhanh, bên cạnh tỉ lệ tăng tự nhiên, thì chú yếu là do di cư từ khu vực nông thôn ra đô thị. Trong khi đó, các cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật không đáp ứng nổi với các yêu cầu của đô thị. Do đó, không thể tránh khỏi hiện tượng quá tải cơ sở hạ tầng, gây ảnh hưởng xấu đến điều kiện sống trong một số khu vực của đô thị, đặc biệt các thành phố lớn. Tinh trạng này dẫn đến việc tăng các khu nghèo đô thị, các khu nhà ổ chuột. Theo số liệu của các cơ quan thống kê, dân số đô thị sống trong các khu nhà ổ chuột chiếm trên 10%, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chưa có việc làm tại các đô thị vẫn còn cao, đặc biệt là các đô thị lớn chiếm khoảng 20%. Số người lang thang, cơ nhỡ, vô gia cư đang là một vấn đề xã hội bức xúc, nhất là trong các đô thị lớn.
– Tinh trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị đang là một nguy cơ lớn đối với vấn đề an toàn lương thực và thực phẩm
+ Mật độ dân số trung bình cả nước là trên 200 người/km2 nhưng phân bô không đều được chia thành 4 vùng như sau:
Vùng mật độ siêu cao (> 500 người/km2), trong đó có một số khu vực vượt trội trên 1000 người/km2 là Thái Bình, thành phố Hà Nội, thành phô’ Hồ Chí Minh.
Vùng mật độ cao (từ 200 – 500 người/km2) là đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và Đồng Nai.
Vùng mật độ trung bình (từ 100-200 người/km2) là vùng đồng bằng ven biển miền Trung.
Vùng mật độ thấp (< 100 người/km2) là vùng núi, trung du và Tây Nguyên.
+ Hiện nay có tới trên 70% đô thị và dân sô’ đô thị ở các vùng đồng bằng, ven biển nơi tập trung chủ yếu quỹ đất nông nghiệp cả nước. Vì vậy đất phần lớn sử dụng vào mục đích xây dựng đô thị và chuyên dùng đều là đất rất tốt cho sản xuất nông nghiệp. Nếu giữ nguyên tình trạng phân bô’ dân cư như hiện nay thì quỹ đất nông nghiệp mỗi năm trung bình giảm đi khoảng 3.800 ha sẽ là nguy cơ lớn đối với an toàn lương thực phẩm của quốc gia trong những thập kỷ tới.
– Cơ cấu tổ chức không gian của hệ thống phân bố dân cư trên cả nước mất cân đối; sự cách biệt giữa đô thị – nông thôn, giữa vùng phát triển và kém phát triển còn là những khoảng cách lớn.
+ Khoảng 80% dân số sống trong vùng nông thôn gồm 9000 xã chiếm 90% diện tích tự nhiên, hơn 20% dân số đô thị sống trong diện tích bằng 0,2% diện tích cả nước. Vì thê đô thị và nông thôn từ hàng ngàn năm tồn tại đối lập nhau do thiếu hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, các điều kiện gắn kết tương hỗ về kinh tế – xã hội, văn hoá, dịch vụ và nghỉ ngơi.
+ Các vùng nông thôn chậm phát triển còn chiếm tỷ lệ cao, chiếm khoảng 82% diện tích tự nhiên cả nước, thậm chí trong đó có những khu vực chưa phát triển.
+ Thế cân bằng 3 vùng Bắc – Trung – Nam chưa được hình thành, khu vực miền Trung chưa có trung tâm kinh tế lớn tương xứng với miền Bắc và miền Nam để làm nên thế đôi trọng.
+ Hệ thống đô thị trung tâm vẫn chưa hình thành đều khắp các vùng, gần 50% dân số đô thị tập trung ở các thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Hiện có trên 70 khu công nghiệp tập trung trên toàn quốc, nhưng phân bố không đồng đều trên lãnh thổ quốc gia. Đa phần các khu công nghiệp tập trung nằm ở các tam giác tăng trưởng trọng điểm, đặc biệt ở vùng tam giác tãng trưởng phía Nam và phía Bắc. Ở các khu vực khác độ hấp dẫn đầu tư rất thấp.
– Cơ sở hạ tầng đô thị nhìn chung còn yếu kém, không đảm bảo tiêu chuẩn phát triển trong diều kiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
+ Hạ tầng xã hội yếu kém. Trường học, bệnh viện, không gian sinh hoạt công cộng trong các khu vực đô thị quá tải, đặc biệt là “không gian giao tiếp” trong các khu dân cư đô thị còn quá thiếu thốn, nghèo nàn về kiến trúc cảnh quan không đáp ứng được nhu cầu của nhân dân. Tinh trậng thiếu nhà ở đang là vấn đề nan giải, bình quân nhà ở đô thị mới đạt trung bình 5,8 m2/người, những năm gần đây việc xây dựng các khu ở đã được các cấp chính quyền quan tâm, đặc biệt là các đô thị lớn nhưng vẫn chưa cải thiện được bao nhiêu vì giá nhà bán ra còn quá đắt so với mức thu nhập của người dân đô thị, tình trạng đầu cơ nhà ở chưa giải quyết được, những chính sách về nhà ở cho người dân đô thị chưa thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Chất lượng môi trường ở tại các khu dân cư đô thị còn rất thấp, trừ một vài khu đô thị mới.
+ Hệ thống cấp thoát nước trong các thành phố đã quá cũ, khối lượng và chất lượng nước sạch trong các đô thị còn thua xa các nước đang phát triển trong khu vực. Đặc biệt hiện tượng ngập úng xảy ra thường xuyên trong mùa mưa. Điều kiện vệ sinh được cải thiện rất ít và không kịp thời. Tinh trạng thiếu nước sạch, thừa nước thải là phổ biến.
+ Mạng lưới giao thông trong và ngoài đô thị chưa phát triển. Các phương tiện giao thông đô thị tãng nhanh, chủ yếu là xe gắn máy 2 bánh, hệ thống giao thông công cộng không hoàn thiện do đường phố chật hẹp và bố trí chưa hợp lý kết hợp điểm giao cắt không lập thể nên tắc nghẽn thường xuyên xẩy ra. Nhiều đô thị đường giao thông đối ngoại còn xuyên qua, có khi trở thành trục chính của đô thị gây mất an toàn giao thông, ô nhiễm không khí và tiếng ồn ngày một gia tăng.
+ Các khu cây xanh, mặt nước bị lấn chiếm và ô nhiễm do nước thải quá bẩn, không gian cho nghỉ ngơi giải trí trong các thành phố chỉ còn lại rất ít và đang có nguy cơ thu hẹp dần, nhiều di tích lịch sử văn hoá bị lấn chiếm do tình trạng thiếu nhà ở hoặc do tình trạng quản lý còn lỏng lẻo thiếu hiệu quả của các cấp chính quyền đô thị, đặc biệt là chưa có biện pháp Quy hoạch không gian cảnh quan hợp lý để bảo tồn, nâng cấp gìn giữ một cách bền vững.
+ Việc sử dụng đất trong các khu vực đô thị còn tuỳ tiện, đặc biệt ít cân nhắc tới mục tiêu môi trường đặt ra trong tương lai. Chủ đề môi trường không được thiết lập, tài nguyên sinh thái chưa được kiểm toán thường xuyên và quan tâm đúng mức nên nhiều khu vực đô thị chỉ sau một giai đoạn phát triển ngắn đã bộc lộ những tổn thất môi trường đáng lo ngại.
+ Mặt khác, báo cáo ĐTM cho các dự án quy hoạch và quản lý đô thị còn thực hiện hời hợt qua loa nên không đáp ứng thực sự cho các nhu cầu phát triển của đô thị, đặc biệt cơ quan quản lý môi trường đô thị chưa phát huy hết vai trò của mình do còn hạn chế về năng lực cũng như cơ chế hoạt động. quy hoạch môi trường đô thị chưa được thiết lập đầy đủ, trong bối cảnh đó hậu quả ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, nhất là tại các thành phố lớn.

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.