Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Các nguyên lý sinh thái học ứng dụng vào nghiên cứu môi trường (P2)

Các nguyên lý sinh thái học ứng dụng vào nghiên cứu môi trường (P2)
Rate this post

Một đặc tính quan trọng của dòng năng lượng trong HST là khi chuyển từ bậc dinh dưỡng này qua bậc dinh dưỡng khác chúng bị phát tán vào MTXQ do nhu cầu hoạt động cơ sở cũng như hoạt động sống của sinh vật, vì thế đi từ sinh vật tự dưỡng đến sinh vật tiêu thụ ớ các bậc cao hơn thì giá trị năng lượng tương đối của các bậc dinh dưỡng (hay khối lượng tương đối chất hữu cơ sản sinh được ở các bậc dinh dưỡng) là giảm dần. Để diễn tả đặc trưng này của HST thông qua một công cụ hình tượng hoá được gọi là tháp sinh thái. Có 3 loại tháp sinh thái: tháp số lượng, tháp sinh khối và tháp nàng lượng. Hình 1.2 mô tá tháp sinh thái số lượng và tháp sinh thái năng lượng của một HST sông.

Hình 1.2. Tháp sinh thái của một HST sông ỞViệt Nam c) Sinh khối của HST
Sinh khối là một khái niệm dùng để đánh giá trữ lượng sinh vật của các HST trong sinh quyển.
Khái niệm này được hiểu theo hai nghĩa:
– Thứ nhất, sinh khối của HST là tổng khối lượng sinh vật sống trong HST (hoặc sinh quyển).
– Thứ hai, sinh khối của HST là khối lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích hoặc thể tích vùng sinh thái.
Trên thực tế số lượng sinh vật trong một hệ sinh thái bao gồm rất nhiều loài (sinh vật tự dưỡng, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân hủy hay nói chung là biotic), vì vậy người ta khó mà tính được sinh khối theo khái niệm này. Để đơn giản, một cách gần đúng người ta thường gọi trữ lượng của loài hoặc số loài đại biểu cho HST là sinh khối. Thí dụ như HST nông nghiệp vùng đổng bằng sông Hồng thì sinh khối được xác định thông qua khối lượng cây lương thực, hệ sinh thái rừng khai thác có sinh khối thông qua khối lượng gỗ…
Tuy nhiên bằng phương pháp khoa học, người ta ước tính được sinh khối trong sinh quyển là khoảng 2.1014 – 2.1016 tấn (trong đó ở đại dương chiếm khoảng 1,1.1 o9 tấn sinh khối thực vật và 2,89.1010 tấn sinh khối động vật). Sinh khối của Trái đất hiện nay chiếm một tỷ lệ nhỏ so với khối lượng của toàn Trái đất. Trong suốt thời gian địa chất lâu dài tính từ khi sinh vật xuất hiện cách đây 3 tỷ năm, sinh quyển đã thực hiện chu trình biến đổi mạnh mẽ một khối lượng lớn vật chất trên Trái đất. Sinh khối có mặt trên hầu hết các loại đất đá trầm tích, đá biến chất và các khoáng sản trầm tích của Trái đất dưới dạng vật chất hữu cơ. Theo D.Hant, tổng khối lượng vật chất hữu cơ trong toàn bộ các đá trầm tích là khoảng 3,8.lo15 tấn.
Cần phải chú ý rằng năng suất sinh học trong các HST tự nhiên bao giờ cũng cao hơn đối với các iỉST nhân tạo, bởi vì dây chuyền thức ăn trong HST tự nhiên là do tự nhiên cung cấp để sinh khối phát triển, chúng tồn tại đa dạng sinh học và đa dạng chuỗi và lưới thức ăn, các thành phần trong hệ tồn tại ở trạng thái cân bằng tương đối ổn định trong một thời gian dài (tức là đạt trạng thái đỉnh cực). Còn trong các HST nhân tạo, một số loài ưu tiên được phát triển mạnh mẽ về số lượng cá thể, ngược lại những loài khác bị thu nhỏ đến mức số lượng cá thể không đáng kể, dẫn đến các thành phần trong hệ không còn khả năng cân bằng ở trạng thái đỉnh cực vì làm mất tính đa dạng sinh học, nghèo nàn về chuỗi thức ăn, thiếu hụt thành phần vô sinh nên dẫn đến sinh khối giảm sút. Nhiều HST nhân tạo sẽ không thể phát triển nếu thiếu sự tác động liên tục của con người.
3. Chu trình sinh địa hoá diễn ra trong HST
Dòng năng lượng đi qua HST theo một chiều, giảm dần theo các bậc dinh dưỡng và không hoàn nguyên. Ngược lại, dòng vật chất tham gia tạo thành các cơ thể sống luôn vận động và biến đổi trong nhiều chu trình, từ các cơ thể sống vào MTXQ không sống và ngược lại. Chu trình vật chất này được gọi là chu trình sinh địa hoá. Vì vậy người ta có thể định nghĩa khái quát chu trình sinh địa hoá diễn ra trong HST như sau:
“Chu trình sinh địa hoá là chu trình vận động của vật chất có tính chất tuần hoàn trong sinh quyển, từ MTXQ chuyển vào trong cơ thể sinh vật, rồi từ cơ thể sinh vật lại chuyển trở lại MTXQ. Vật chất đều được bảo toàn
Trong 109 nguyên tố của bảng tuần hoàn Mendeleep, người ta đã phát hiện thấy hơn 70 nguyên tố hoá học có trong thực vật, trong đó có khoảng 20 nguyên tố được xếp vào loại cần thiết và 12 nguyên tố cần thiết có điều kiện cho cơ thể sống. Những nguyên tố tồn tại một lượng lớn trong MTXQ mà cơ thể sinh vật cũng đòi hỏi một lượng lớn được gọi là những nguyên tố đa lượng (như c, H, o, N, p, K…), ở lượng vừa phải gọi là trung lượng (như Ca, Mg, s…), ở lượng nhỏ đến rất nhỏ gọi là vi lượng (như Cu, Zn, Mn, Co, Mo…).

Hình 1.3. Sơ đồ tổng quát chu trình sinh địa hóa tự nhiên diễn ra trên Trái đất.

Cãn cứ vào đặc điểm vận hành vật chất trong chu trình, người ta phân ra hai loại chu trình sinh địa hoá: Chu trình diễn biến nhanh (như chu trình của các nguyên tô cacbon, nitơ… có giai đoạn ở dạng khí và chiếm ưu thế trong chu trình, từ cơ thể sinh vật chúng trở lại MTXQ tương đối nhanh) và chu trình diễn biến qua lắng đọng (chu trình của những chất có lắng đọng lại ở một khâu nào đó trong quá trình tuần hoàn. Chúng lắng đọng trong các HST khác nhau và chỉ có thể vận hành trớ lại dưới tác động của những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên như xói mòn, lở đất hoặc đào xới do con người).
Dưới đây là chu trình sinh địa hoá của một số nguyên tố.
– Chu trình Cachon vô cơ bao gồm hai thành phần chính:
+ Lượng C02 thoát ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu lửa, khí đốt, đá cacbonat) và thoát ra từ lòng đất do quá trình kiến tạo địa chất mà có (hoạt động của núi lửa, sự tạo thành khe nứt ớ lóp vỏ Trái đất).

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.