Bài viết mới nhất

Bài viết nổi bật

Bài viết xem nhiều

Tìm kiếm nhanh

Các chức năng chủ yếu của MTSCN

Các chức năng chủ yếu của MTSCN
Rate this post

Từ nhận thức về MTSCN, chúng ta thấy rằng nó phải đảm bảo được 4 chức năng chủ yếu sau đây:
1. Là không gian sống cho con người và thê’giới sinh vật (Habitat)
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như : nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, kho tàng, bến cảng… Trung bình mỗi người một ngày cần khoảng 4m3 không khí sạch để thở và 2,5 lít nước sạch để uống, một lượng lương thực thực phẩm tương ứng với 2.000 – 2.400 calo. Như vậy chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người. Ví dụ phải có bao nhiêu m2, hecta hay km2 đất cho mỗi người. Không những thế, không gian này lại đòi hỏi phải đạt những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, cảnh quan và xã hội.
Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ khoa học và công nghệ. Trình độ phát triển càng cao thì nhu cầu về không gian sản xuất sẽ càng giảm. Tuy nhiên, trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tự nhiên, có 2 tính chất mà con người cần chú ý là tính chất tự cân bằng (hornestasis), nghĩa là khả năng của các HST có thể gánh chịu trong điều kiện khó khăn nhất, và tải lượng mà môi trường phái gánh chịu.
Gần đây. để cân nhắc tải lượng mà môi trường phải gánh chịu đã xuất hiện những chỉ thị cho tính bền vững liên quan đến không gian sống của con người như:
– Khoảng sử dụng môi trường (environmental use space) là tổng các nguồn tài ne,uvên thiên nhiên có thể được sử dụng hoặc những ô nhiễm có thể phát sinh để đảm bao một môi trường lành mạnh cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
– Dấu chân sinh thái (ecological footprint) được phân tích dựa trên định lượng tỷ lệ giữa tải lượng của con ngưởi lên một vùng nhất định và khả năng của vùng để duy trì tải lượng đó mà không làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Giá trị này được tính bằng diện tích đất sản xuất hữu sinh (đất trồng trọt, đồng cỏ, rừng, ao hồ, đại dương, …) và cộm? thêm 12% đất cần được dự trữ để bảo vệ đa dạng sinh học. Nếu tính riêng cho nước Mỷ, trong năm 1993 thì mức sống trung bình của một người dân Mỹ, cần sản xuất một dấu chân sinh thái là 8,49 ha (điều này có nghĩa là, tính theo năng suất trung bình của thế giới thì 8,49 ha đất sản xuất hữu sinh phải liên tục sản xuất để hỗ trợ cho một công dân Mỹ sống). Dấu chân sinh thái này chiếm diện tích gấp hctn 5 lần so với mức tính cho yêu cầu trung bình của một công dân trên Thế giới (1,7 ha là mức trung bình Thế giới). Chỉ những quốc gia với dấu chân sinh thái cao hơn 1,7 ha mới có một tác động bền vững toàn cầu đối với mọi người mà không làm cạn kiệt kho vốn thiên nhiên của Trái đất.
Như vậy, MTXQ là không gian sống của con người và có thể phân loại chức năng không gian sống của con người thành các dạng cụ thể sau :
+ Chức năng xây dựng: cung cấp mặt bằng và nền móng cho các đô thị, khu công nghiệp, kiến trúc hạ tầng và điểm dân cư nông thôn.
+ Chức năng vận tải: cung cấp mặt bằng, khoảng không gian và nền móng cho giao thòng đường thuỷ, đường bộ và đường không.
+ Chức nãng sản xuất: cung cấp mặt bằng và phông tự nhiên cho sản xuất nông – lâm nghiệp.
+ Chức năng cung cấp năng lượng, thông tin
+ Chức năng giải trí của con người: cung cấp mặt bằng nền và phông tự nhiên cho việc giải trí ngoài trời của con người (trượt tuyết, trượt băng, đua xe, đua ngựa…)
2. Là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người
Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn. Bắt đầu từ khi con người biết canh tác cách đây khoảng 14-15 nghìn nãm, vào thời kỳ đồ đá giữa cho đến khi phát minh ra máy hơi nước vào thế kỷ XVIII, đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực. Xét về bản chất thì mọi hoạt động của con người đế duy trì cuộc sống đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống sinh thái của tự nhiên thông qua lao động cơ bắp, vật tư công cụ và trí tuệ.
Với sự hỗ trợ của các hệ thống sinh thái, con người đã lấy từ tự nhiên những nguồn tài nguyên thiên nhiên cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của mình. Rõ ràng, thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi nguồn tài nguyên cần thiết. Nó cung cấp nguồn vật liệu, nãng lượng, thông tin (kể cả thông tin di truyền) cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất và quản lý của con người.
Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên cả vé số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội. Chức năng này của MTXQ còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm:
– Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn tính ĐDSH và độ phì nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái.
– Các thủy vực: có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và các nguồn thủy hải sản.
– Động thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm.
– Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước: để chúng ta hít thở, cây cối phát triển ra hoa kết trái.
– Các loại quặng, dầu mỏ: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất công nghiệp…
3. Là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải vật chất, con người luôn đào thải ra các chất thải vào MTXQ. Tại đây các chất thải dưới tác dụng của các vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác, sẽ bị phân huỷ biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt các quá trình sinh địa hoá phức tạp. Trong thời kỳ sơ khai, khi dân số nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân huỷ tự nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở về trạng thái nguyên liệu của tự nhiên. Sự tăng dân số Thế giới nhanh chóng, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến chức năng này ở nhiều nơi nhiều chỗ trở nên quá tải, gây ô nhiễm MTXQ. Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải trong một khu vực nhất định được gọi là khả năng đệm (buffer capacity) của khu vực đó. Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân huỷ thì chất lượng môi trường sẽ giảm và có thể bị ô nhiễm. Có thể phân loại chức năng này một cách chi tiết như sau:
a) Chức nãng biến đổi lý – hoá. Như pha loãng, phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng, hấp thụ, sự tách chiết các vật thải và độc tố.
b) Chức năng biến đổi sinh hoá. Sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình nitơ và cacbon, khử các chất độc bằng con đường sinh hoá.
c) Chức năng biến đổi sinh học. Khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá, amôn hoá, nitrat hoá và phản ứng nitrat hoá…
4. Là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Môi trường trên Trái đất được coi là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Bới vì:
– Trái đất là nơi “ghi chép” và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người.
– Tái đất là nơi biểu hiện các chỉ thị về không gian, thời gian và những hiện tượng mang tính tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên Trái đất như: phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tiền tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa…
– Trái đất là nơi lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các HST tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ đê thưởng ngoạn, tôn giáo và đa dạng văn hoá v.v…

© 2017 Quy hoạch bất động sản All Rights Reserved   

Theme Smartpress by Level9themes.